ĐÀM CỬU CHỈ
GS,TS Đàm Đức Vượng
Triều vua Lý Thái Tông có vị thiền sư pháp danh rất nổi tiếng là Đàm Cửu Chỉ (chưa rõ năm sinh của ông, chỉ biết ông mất vào năm 1007 - Đinh Mùi), người huyện Phủ Đàm, phủ Chu Minh (Bắc Ninh).
Đàm Cửu Chỉ thuộc thế hệ thứ bảy của phái Vô Ngôn Thông1. Ngay từ thuở nhỏ, Ông rất hiếu học, say mê nghiên cứu học thuyết của Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mặc Tử, đọc nhiều sách của các vị đó và than rằng:
“Khổng Tử, Mặc Tử câu chấp về lẽ "có", còn Lão Tử, Trang Tử lại đắm đuối về lẽ "không". Đàm Cửu Chỉ tổng kết các học thuyết đó và rút ra nhận định quan trọng là Khổng Tử, Mặc Tử cho rằng, “có vật chất”; còn Lão Tử, Trang Tử lại cho rằng, “không có vật chất”. Tất cả đều không phải là cách giải thoát. Chỉ có đạo Phật là nói đúng, không kể “có - không - không - có”, chỉ biết ở trên đời là “có có - không không”. Con người ta có thể về nơi Niết Bàn, nhưng khi còn sống phải tự tu rất nghiêm ngặt, thì mới có thể đến chốn Niết Bàn được”.
Đàm Cửu Chỉ nghiên cứu đạo Phật cùng với Định Hương Trưởng lão ở chùa Cam Ứng, núi Ba Sơn, rồi tiếp tục tu học ở chùa Quang Minh, núi Tiên Du, rất linh nghiệm.
Vua Lý Thái Tông biết rõ học vấn của Đàm Cửu Chỉ rất cao siêu, cho nên đã ba lần cho vời ông vào Triều làm Quốc sư, nhưng ông đều thoái thác với lý do là ông đã quen sống nơi cửa Phật, rất khó bước vào cửa đời. Nhà Vua cảm động lắm, đã đích thân đến thăm ông. Cuối đời, ông về ở chùa Diên Linh, núi Long Đội. Ngôi chùa này do Tể tướng Dương Đạo Gia xây dựng và mời ông trụ trì. Tục truyền, ngôi chùa này rất linh thiêng.
Những ngày sống ở chùa Diên Linh, Ông tu hành đắc đạo, làm công việc cứu nhân độ thế, chữa bệnh cho dân, đọc sách và làm thơ.
------
1. Vô Ngôn Thông là một trong những phái của dòng thiền Việt Nam, như phái Khương Tăng Hội; phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi; phái Vô Ngôn Thông; phái Thảo Đường; phái Trúc Lâm; phái Lâm Tế; phái Tào Động…
Phái Vô Ngôn Thông có những thiền sư nổi danh của dòng này như sư Khuông Việt (?-1011), sư Thông Biện (?-1134), sư Mãn Giác (?1096), sư Minh Không (?-1144), sư Giác Hải. Thế hệ cuối cùng của phái Vô Ngôn Thông là vào khoảng cuối thế kỷ XIII. Phái Vô Ngôn Thông theo dòng thiền của sư Huệ Năng. Chủ trương của phái Vô Ngôn Thông là "Giác ngộ nhanh chóng" (gọi là Đốn ngộ). Các vị thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đều có tâm hồn thi sĩ. Có vị sư vừa theo phái Vô Ngôn Thông, vừa theo phái Thảo Đường.
Người lập ra phái Vô Ngôn Thông là một vị sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu. Ông xuất gia tại chùa Song Lâm, Vụ Châu. Tính tình Ông điềm đạm, ít nói, thông minh, cho nên người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông (có sách ghi là Bất Ngôn Thông), nhưng tên chữ “Vô Ngôn Thông” vẫn là phổ biến. Sử sách chép lạị năm Canh Tý, niên hiệu Nguyên Hòa đời Nhà Đường, vị Sư họ Trịnh có sang An Nam, ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ở đây mấy năm liền, suốt ngày, Sư chỉ quay mặt vào tường tọa thiền. Vị sư trụ trì nơi đây tên là Cảm Thành thầm biết Sư là vị Cao tăng đắc đạo, cho nên hết sức kính trọng. Khi sắp viên tịch, Sư gọi Cảm Thành đến đọc cho nghe 4 câu kệ:
"Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh
Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ
Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại
Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa".
(Nhất thiết các pháp đều từ tâm sinh
Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ
Nếu đạt đất tâm chỗ trụ không ngại
Không gặp thượng căn dè dặt chớ dạy).
Nói xong, Sư chắp tay viên tịch. Cảm Thành thiêu lấy hài cốt và xây tháp thờ trên núi Tiên Du.
(Theo "Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia).
(Đăng bài: Quỳnh Nga)
