ĐÀM VĂN LỄ
GS,TS Đàm Đức Vượng
Triều Trần, Triều Hồ Quý Ly, tôi (ĐĐV) không thấy xuất hiện những vị quan lớn của Họ Đàm Việt Nam. Đến Triều Hậu Lê (giai đoạn đầu là Triều Lê Sơ), những vị quan lớn của Họ Đàm Việt Nam nở rộ như hoa mùa xuân.
Nổi bật nhất của Họ Đàm Việt Nam dưới Triều Hậu Lê, nối tiếp sang Triều Mạc và Triều Lê Trung Hưng, có nhiều người chăm chỉ học tập, thi cử thành đạt, đỗ tiến sĩ, làm quan to, như Đàm Chí, Đàm Công, Đàm Cư (Đàm Đình Cư), Đàm Đình Phương, Đàm Đức Nhuận, Đàm Khuyến, Đàm Phúc Mậu, Đàm Thảo Lư, Đàm Sâm, Đàm Văn Lễ, Đàm Thận Huy, Đàm Thận Giản, Đàm Công Trường, Đàm Trung Kình, Đàm Duy Thạch, Đàm Vĩnh Miên, Đàm Tụy, Đàm Văn Tiết, Đàm Công Hiệu,…
Theo sử sách, Đàm Thận Trung là một nhà thơ nổi tiếng dưới Triều Vua Lê Thánh Tông. Rất tiếc, hiện nay, ông không còn một bài thơ nào để lại cho đời sau, nên không có tài liệu để viết về ông.
Xin dẫn ra đây một nhân vật tiêu biểu của Họ Đàm Việt Nam dưới Triều Hậu Lê.
Đàm Văn Lễ tự Hoằng Kính, hiệu Chân Trai (có sách chép hiệu của ông là Đạo Trai), là danh thần Triều Vua Lê Thánh Tông; sinh năm Nhâm Thân (1452), quê xã Lâm Sơn (có tài liệu viết xã Lam Sơn), huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Lâm Sơn, xã Lam Sơn (có sách viết Nam Sơn), Thành phố Bắc Ninh. Đàm Văn Lễ là ông nội tiến sĩ Đàm Văn Triết (có tài liệu viết là Đàm Văn Tiết)1, người nổi tiếng thần đồng.
Năm Kỷ Sửu (1469), Đàm Văn Lễ mới 17 tuổi2, xin ứng thi, đỗ đệ tam giáp, đồng Tiến sĩ. ông có chân trong "Tao đàn Nhị thập bát tú"3, dưới Triều Vua Lê Thánh Tông.
Sau khi đỗ đệ tam giáp, Đàm Văn Lễ được triệu vào làm việc trong Triều, thăng chức Hàn lâm Hiệu lý. Năm Hồng Đức Quý Mão (1483), được tấn phong Hàn lâm Thị thư4, cùng với Thân Nhân Trung soạn bộ "Thiên Nam dư hạ tập". Năm Mậu Thân (1488), ông được phong làm Chánh sứ sang Nhà Minh, mừng Vua Minh lên ngôi. Khi trở về, được thăng chức Phó đô Ngự sử5, làm Giám khảo khoa thi Điện năm Quý Sửu (1493). Cùng năm này (1493), ông được thăng chức Thượng thư Lễ Bộ kiêm Đông các Đại học sĩ6. Cũng năm này, ông soạn bài văn bia "Chiêu lăng Thần đạo". Năm Cảnh Thống Kỷ Mùi (1499), Sứ thần Nhà Minh sang Đại Việt, ông phụng mệnh Vua tiếp Sứ thần tại quán dịch. Mọi nghi lễ đều do ông sắp đặt, rất chu đáo, khiến Sứ thần Nhà Minh phải khâm phục. Khâm hoàng (Lê Túc Tông) phong cho ông làm "Tả xuân phường hữu dụ đức, nhưng vẫn kiêm chức cũ"7.
Ngày 11 tháng 12 năm Mậu Thân (1488), Vua Lê Thánh Tông sai các đại quan Đàm Văn Lễ, Vương Khắc Thuật, Phạm Miễn Lân đi sứ sang Nhà Minh.
Tháng 3 năm Quý Sửu (1493), Triều đình tổ chức thi hội cho các cử nhân trong nước. Kỳ thi này, Đàm Văn Lễ được giao làm giám thí.
Đàm Văn Lễ rất coi trọng nhân tài qua thi cử. Trong bài “Tiến sĩ đề danh vi ký”, Đàm Văn Lễ viết:
“Nhân tài có quan hệ rất lớn đối với nước nhà. Từ đời Đường Ngu, Tam đại đến Hán, Đường, Tống, lập ra tường, tự8, học hiệu, mà nhân tài được đào tạo, ban hành phép thi cử mà nhân tài được sử dụng. Tuy hiệu quả trị nước có thuần, có tạp, nhưng chưa bao giờ không coi việc chọn người tài giỏi làm đầu. Lê Thái Tổ bình định thiên hạ, nuôi dạy anh tài, hỏi tìm rộng rãi, thì cầu người ẩn dật, thu chọn quy mô, thì thi khảo học trò, tuy chưa đặt khoa thi tiến sĩ mà khí mạch văn học đã đủ. Lê Thái Tông xây dựng nền móng, từ năm Nhâm Tuất mở khoa thi mà nhân tài quần tụ. Lê Nhân Tông kế tiếp mở ba khoa thi mà nhân văn càng thêm rực rỡ. Đến Lê Thánh Tông trung hưng năm Quý Mùi, thì số người ấy đỗ nhiều hơn cả so với trước. Song, từ khoa Nhâm Tuất đến khoa Quý Mùi, khi thì 6 năm một khoa, lúc lại 5 năm một khoa, còn 3 năm một khoa thì năm Bính Tuất này (1466) mới bắt đầu. Những người thi đỗ đều xứng đáng là nhân tài cả. Sau này, chế độ ngày càng tường tận, văn học ngày càng đầy đủ hơn. Thi hội có đăng khoa lục8 đã đủ nêu sự thịnh trị của đời nay, có đề danh bi9 lại đủ làm gương khuyến khích cho hậu thế”10.
Tháng 11 năm này (Quý Mão-1483), Vua Lê Thánh Tông ban sắc dụ cho các quan trí thức trong Triều, trong đó có quan Hàn lâm thị thư Đàm Văn Lễ cùng phối hợp soạn các sách “Thiên Nam dư hạ tập” và “Thân chinh ký sự”.
Ngày 15 tháng 8 năm Giáp Thìn (1484), Vua Lê Thánh Tông ban lệnh dựng bia có bài ký ghi tên các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất (1442), năm Đại Bảo thứ ba, Triều Vua Lê Thái Tông đến nay (thời điểm này, Giáp Thìn-1484)11, chỉ định một số quan có học của Triều đình, trong đó có quan Hàn lâm thị thư Đàm Văn Lễ, đảm nhận công việc này.
Tháng 3 năm Bính Thìn (1496), Triều đình tổ chức thi hội. Ngày 19 tháng 3 năm Bính Thìn (1496), Vua Lê Thánh Tông thân hành khảo thi ở điện Kinh Thiên, hỏi về đạo trị nước; sai một số quan có học thức, trong đó có Đàm Văn Lễ được chỉ định làm giám thí.
Ngày 8 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1498), Vua Lê Hiến Tông tổ chức rước quan tài Vua Lê Thánh Tông về Nam Kinh, Thanh Hóa, chôn vào bên tả Vĩnh Lăng ở Lam Sơn, gọi là Chiêu Lăng. Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ và 2 người nữa được chỉ định soạn văn bia đánh giá công lao của Vua Lê Thánh Tông.
Tháng 12 năm Kỷ Mùi (1499), Vua Lê Hiến Tông sai Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ cùng một số quan làm lễ để quan Hành nhân Nhà Minh sang viếng Vua Lê Thánh Tông.
Năm Giáp Tý (1504), Vua Lê Hiến Tông bệnh nặng và mất. Triều đình xảy ra chuyện tranh ngôi Vua. Đại thần Nguyễn Kính Kỷ muốn dựng Lê Uy Mục lên ngôi Vua, đã đem vàng bạc hối lộ Đàm Văn Lễ. Ông không nhận, rồi cùng đô ngự sử Nguyễn Công Bật (Nguyễn Quang Bật) nhận tờ Di chiếu, lập thái tử Thuần, tức Lê Túc Tông lên ngôi Vua. Đến khi Lê Túc Tông mất, Lê Uy Mục lên nối ngôi Vua. Oán giận việc trước, Lê Uy Mục giáng ông làm Thừa tuyên (có tài liệu viết "Thừa chính sứ") Quảng Nam. Trên đường đi vào Quảng Nam, khi ông đến sông Chân Phúc, Nhà Vua sai người đuổi theo, ép ông tự vẫn. Đó là ngày 5 tháng 6 năm Ất Sửu (1505). Ông gieo mình xuống sông tự vẫn, năm ấy, Đàm Văn Lễ 54 tuổi. Kịp khi Vua Hồng Thuận (Lê Tương Dực) dấy binh, mới truy phong và tế ông để nêu tiết nghĩa". Trước khi nhảy xuống sông tự vẫn, ông ngẩng cao đầu đọc bài thơ nôm (không còn tương truyền).
Sau cái chết của Đàm Văn Lễ, có người trong cung đình can thiệp, nói ông bị oan ức, khiến Vua Lê Uy Mục phải hối hận, giết chết tên nịnh thần Nguyên Nhự.
Đến đời Vua Lê Tương Dực (1509-1516), Đàm Văn Lễ mới được truy phục tước quan và điếu tế.
Đàm Văn Lễ mất đi, ngoài tác phẩm "Chiêu lăng thần đạo", ông còn để lại 24 bài thơ chữ Hán. Những bài thơ này có chép trong "Toàn Việt thi lục"12.
Đàm Văn Lễ là người con của Họ Đàm Việt Nam, kiến thức rất uyên bác, cực kỳ thông minh, nhưng số phận lại khắc nghiệt. Than ôi!
------
1. Xem bài "Những tấm gương họ Đàm" của Nguyễn Quang Hạ, tin trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 257 và một số tài liệu khác.
2. Trong sách "Lịch triều Hiến chương loại chí" (Nhân vật chí) của Phan Huy Chú, Nxb Trẻ, 2014, tr. 120, ghi: "Lúc bé, Ông đã nổi tiếng thần đồng, thi hương đỗ giải nguyên, năm 18 tuổi, mới thi một lần đã đỗ đồng tiến sĩ khoa Kỷ Sửu năm Quang Thuận thứ 10 (1469)". Đông các Đại học sĩ là chức quan trong tứ trụ thời phong kiến, chuyên dạy học cho thái tử, hoàng tử.
3. Dẫn theo "Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam" của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 117. Nhưng theo các tài liệu khác, thì Đàm Văn Lễ không có tên trong "Tao đàn Nhị thập bát tú". Có thể là ông được bổ sung sau, còn theo danh sách ban đầu không có tên ông.
4. Hàn lâm Hiệu lý và Hàn lâm Thị thư là những chức chuyên sửa sang văn tự và quản lý sách trong Viện Hàn lâm.
5. Ngự sử là chức quan chuyên làm việc can gián nhà vua thời phong kiến.
6. Đông các Đại học sĩ là chức quan trong tứ trụ thời phong kiến, chuyên dạy học cho thái tử, hoàng tử.
7. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí (Nhân vật chí), Nxb Trẻ, 2014, tr. 121.
8. Đăng khoa lục là sách ghi chép tên những người thi đỗ, cùng quê quán và thứ bậc của họ.
9. “Đề danh bi” là bia đá khắc tên tuổi, quê quán các vị tiến sĩ.
10. Đại Việt Sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tập 2, tr. 413.
11. Từ khoa Nhâm Tuất (1442), năm Bảo Đại thứ ba đến khoa Giáp Thìn (1484), có tất cả 10 khoa thi.
12. "Toàn Việt Thi lục" soạn năm 1768, là bộ hợp tuyển thơ ca chữ Hán do nhà văn, nhà bác học Lê Quý Đôn sưu tầm, biên soạn. Trong vòng một năm, sách hoàn thành, soạn giả dâng lên triều đình và được khen thưởng, chép thơ từ Triều Lý đến Triều Lê Sơ. Thơ của các nhà sư chép vào phần phụ lục. Toàn Việt Thi lục được đánh giá cao về quy mô sưu tập. Lê Quý Đôn đã kế thừa được cả về tư liệu cũng như về phương pháp của nhưng người trước Ông như Phan Phu Tiên, Dương Đức Nhan, Hoàng Đức Lương. Cách trình bày trong bộ sách là gọn gàng, trật tự. Tuy nhiên, theo tác giả Trần Thị Băng Thanh trong bài viết "Toàn Việt Thi lục", in trong "Từ điển Văn học" tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984, tr. 402, thì "Toàn Việt thi lục" cũng có một đôi điểm lùi so với "Trích diễm Thi lục", đó là sự phân biệt đẳng cấp, tư tưởng độc tôn Nho giáo trong thứ tự ưu tiên. Điều đó có hạn chế ít nhiều tính khoa học của bộ sách".
(Đăng bài: Quỳnh Nga)
