Mới cập nhật

THƯỢNG THƯ ĐÀM THẬN HUY

 GS,TS Đàm Đức Vượng

     

Triều vua Lê Thánh Tông có ông Đàm Thận Huy, hiệu Mặc Trai, chữ là Mặc Hiên, tên húy là Trung Hiến, sinh năm Quý Mùi (1463); người thôn Ngô Tiền, xã Ông Mặc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh (nay là làng Me, còn gọi là Hương Mạc, phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh).

Theo tác giả Đàm Thận Sơn trong bài "Uống nước nhớ nguồn, tri ân công đức tổ tiên"1, thì dòng họ Đàm Thận... ở làng Me, xã Ông Mặc, tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc (nay là thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) xuất hiện đầu tiên từ cuối Triều Trần. Người đặt nền móng phát tích theo gia phả của dòng họ là Di tổ hiệu Đàm Vô Tâm (chưa rõ ngày, tháng, năm, sinh). Ông sinh được hai người con trai là Đàm Trung Khoa và Đàm Minh Đạo. Đàm Minh Đạo sinh ra Đàm Thận Huy vào năm Quý Mùi (1463) và Đàm Thận Giản vào năm Bính Thân (1466). Đàm Thận Huy là con trai trưởng của ông Đàm Minh Đạo.

Tháng 11 năm Ất Mão (1495), Vua Lê Thánh Tông sai làm sách “Ngự chế Quỳnh uyển cửu ca”2. Nhà Vua thấy hai năm Quý Sửu (1493) và Giáp Dần (1494), thóc lúa được mùa, cho nên đặt các bài ca vịnh để ghi điềm lành. Nội dung gồm những bài về đạo làm vua, khí tiết bề tôi, vua giỏi, tôi hiền, nhớ bậc anh tài kỳ tuấn và viết thành văn, gọi là “Quỳnh uyển cửu ca thi tập”. Sai một số quan trí thức, trong đó có Hàn lâm viện kiểm thảo Đàm Thận Huy cùng họa vần.

Tam Môn - di tích quốc gia đền thờ cụ Đàm Thận Huy

Họ Đàm ở Ông Mặc, Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh vốn vẫn được nhiều người gọi là dòng họ “Thi, thư, lễ nghĩa”. Từ thời Lê Thánh Tông (1442-1497), thì dòng họ đã có hai anh em ruột Đàm Thận Huy, Đàm Thận Giản đỗ đại khoa. Cụ Đàm Thận Huy đỗ tiến sĩ năm Canh Tuất (1490), làm quan Lễ Bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm Viện sự. Ông phò vua Lê Chiêu Tông cử binh chống lại nhà Mạc, được vua Mạc truy phong Tước hầu, vua Lê cho lập đền thờ “Tiết nghĩa từ” ở quê. 

Xã Ông Mặc là đất khoa cử, phát quan. Trong lịch sử khoa cử của Việt Nam dưới chế độ phong kiến, xã Ông Mặc (Hương Mạc), Từ Sơn, Bắc Ninh có 19 vị đỗ đại khoa, trong đó, bao gồm cả trạng nguyên, thám hoa, tiến sĩ và hàng trăm người đỗ cử nhân, tú tài. Sức học của người họ Đàm ở đất Hương Mạc quả thật là đáng khâm phục.

Phu nhân Đàm Thận Huy là người họ Nghiêm, con gái quan Tri phủ Nghiêm Khắc Nhượng, người cùng huyện với Đàm Thận Huy. Bà sinh được tất cả 8 người con, bốn trai, bốn gái.

Ngay từ thuở thiếu niên, Đàm Thận Huy đã bộc lộ rõ tư chất thông minh, chăm chỉ học hành, đào sâu suy nghĩ trong học tập, nghiên cứu, ghi chép cẩn thận những lời đắc chí trong sách, phân tích ngọn ngành từng áng văn, tứ thơ, làm sáng tỏ vấn đề đức văn trong việc soạn thảo văn tự cho Triều đình, sửa sang việc văn như sửa sang việc nước, tính đến chuyện tôn văn như tôn nước, yêu văn như yêu nước, yêu nhà. Ông là một nhà văn tự tầm cỡ, một nhà Hán - Nôm, nhà Nho uyên bác. Văn thơ của Ông là văn thơ ca ngợi cung đình, trung thành với Triều Lê sơ. 

"Năm 28 tuổi, đỗ đồng tiến sĩ3 khoa Mậu Tuất (Canh Tuất?), Triều Hồng Đức (1490), bắt đầu làm hiệu thảo Viện Hàn lâm, được dự vào số 28 người ở Tao Đàn.

Năm Canh Ngọ đời Hồng Thuận (1510), vì có công ứng nghĩa, Ông được thăng Thượng thư Hình Bộ4, thị độc Viện Hàn lâm và giữ việc của Viện5. Năm ấy, Ông 48 tuổi, vâng mệnh làm Chính sứ sang Minh tâu việc. Khi về, được thăng Thượng thư Lại Bộ6, coi quán Chiêu văn cục Tú Lâm, được phong kiệt tiết dực vận tán trị công thần, gia phong Thiếu bảo7, vào hầu giảng ở Kinh duyên, tước Lâm Xuyên bá.

Khi Chiêu Tông phải chạy ra ngoài, Ông vâng mật chiếu về Bắc Giang dấy binh, chống với Mạc Đăng Dung, nhưng không địch nổi, uống thuốc độc chết.

Đời Trung hưng lục và khen thưởng người tiết nghĩa, truy phong Ông làm Phúc thần hạng trên, lập đền thờ ở làng"8.

Sách "Lịch triều Hiến chương loại trí" của Phan Huy Chú không thấy viết Đàm Thận Huy là Thượng thư Lễ Bộ, nhưng sách "Đại Việt Sử ký toàn thư" (tập 2, trang 576), viết: "Lấy Đàm Thận Huy làm Thiếu bảo Lễ Bộ Thượng thư nhập thị kinh diên"9.

Như vậy, Đàm Thận Huy đã kinh qua ba chức vụ quan trọng trong Triều Lê sơ: Thượng thư Hình Bộ, Thượng thư Lại Bộ, Thượng thư Lễ Bộ. Những bộ này, dưới Triều Lê sơ đều là những bộ quan trọng. 

 Mùa đông năm Ất Mão (1495, có tài liệu viết năm 1494), Vua Lê Thánh Tông sáng lập ra Hội Tao đàn, một hội nhà văn cung đình. Sử sách chép lại rằng, Vua Lê Thánh Tông thấy hai năm liền thời tiết của nước Đại Việt thuận hòa, được mùa lớn, cây cối xanh tươi, lòng người phấn khởi. Nhân đó, Nhà Vua sáng tác 9 bài thơ ca ngời điềm lành của trời đất Đại Việt. Chín bài thơ ấy gọi là Thi tập "Quỳnh uyển cửu ca", gồm: (1) "Phong niên" (Năm được mùa). (2) "Quân đạo" (Đạo làm vua). (3) "Thần tiết" (Tiết làm tôi). (4) "Minh lương" (Vua sáng tôi hiền). (5) "Anh hiền" (Bậc anh minh hiền tài). (6) "Kỳ khí" (Khí lạ). (7) "Thư thảo" (Người cầm bút). (8) "Văn nhân" (Nhà văn thơ). (9) "Mai hoa" (Hoa mai).

Vua Lê Thánh Tông trực tiếp viết Lời tựa cho Thi tập và tự xưng là "Tao đàn nguyên súy" (có tài liệu viết là "Tao đàn Đô nguyên súy"); đồng thời, trưng tập được 28 vị quan biết làm thơ, gọi là "Tao đàn nhị thập bát tú" (Hội Tao đàn của 28 ngôi sao), gồm: Thân Nhân Trung (Tao đàn Phó nguyên súy); Đỗ Nhuận (Tao đàn Phó nguyên súy); Ngô Luân; Ngô Hoán; Nguyễn Xung Xác; Lưu Hưng Hiếu; Nguyễn Quang Bật; Nguyễn Đức Huấn; Vũ Dương; Ngô Thầm; Ngô Văn Cảnh; Phạm Trí Khiêm; Lưu Thư Ngạn; Nguyễn Nhân Bị; Nguyễn Tông Miệt; Ngô Quyền; Nguyễn Bảo Khuê; Bùi Phổ; Dương Trực Nguyên; Chu Hoán; Phạm Cẩn Trực; Nguyễn Ích Tốn; Đỗ Thuần Thứ; Phạm Nhu Huệ; Lưu Địch; Đàm Thận Huy; Phạm Đạo Phú; Chu Huân10.

Năm Đinh Tỵ (1497), Vua Lê Thánh Tông mất, người ta không thấy nói đến hoạt động của Hội Tao đàn nữa. Như vậy, Hội Tao đàn chỉ tồn tại được 2 năm. 

Đàm Thận Huy có một số bài thơ đóng góp cho Hội Tao đàn. 

Tuy nhiên, nhìn chung, hoạt động của Hội không có gì nổi bật, ngoài việc xướng họa giữa Vua Lê Thánh Tông và các văn thần. Dù sao, sự xuất hiện của Hội Tao đàn đánh dấu bước phát triển cao của phong trào sáng tác thơ văn cung đình, do Vua Lê Thánh Tông đề xướng và khuyến khích. Quan điểm văn học của Hội là quan điểm Nho gia, dùng ngòi bút văn thơ để phục vụ nhà nước phong kiến. Trong Lời tựa cho Thi tập "Quỳnh uyển cửu ca", Vua Lê Thánh Tông viết: Sáng tác văn thơ là "nghĩ đến phép lớn của các bậc đế vương thánh triết, đến lòng cặn kẽ của những bề tôi trung lương". Với quan điểm này, Hội Tao đàn chỉ còn một cách là ca ngợi nhà vua, tụng ca thời thịnh trị. Tuy nhiên, trong lúc tụng ca đấng quân vương, cũng vẫn có một số bài viết về quyền lợi của dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc, niềm tự hào về một đất nước văn hiến, thịnh trị, đến cuộc sống hòa bình, tình yêu hạnh phúc của trăm họ.

Năm 1510 (Canh Ngọ), Thượng thư Đàm Thận Huy được cử làm Chánh sứ  sang Triều Minh. Tại Triều Minh, ông đã bày tỏ lòng trung quân ái quốc với Triều Lê Sơ và lên án việc làm phản tặc của Mạc Đăng Dung. Tuy nhiên, những thỉnh cầu của ông không được Vua Nhà Minh chấp nhận.

Trong khoảng 36 năm làm quan, Đàm Thận Huy đã trải qua 6 triều vua: Triều Vua Lê Thánh Tông (8 năm), Triều Vua Lê Hiến Tông (6 năm), Triều Vua Lê Túc Tông và Lê Uy Mục (5 năm), Triều Vua Lê Tương Dực (7 năm), Triều Vua Lê Chiêu Tông (5 năm)11...

Khi Mạc Đăng Dung12 lúc ấy làm trấn thủ Sơn Nam với chức Phó tướng Tả đô đốc, lợi dụng lúc Triều Lê đang có vấn đề, đem quân về Kinh thành Thăng Long ép Vua nhường ngôi, tự đặt làm Vua, đặt niên hiệu là Minh Đức, thì Đàm Thận Huy đã cùng với các đại thần Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Hữu Nghiêm, Hà Phi Chuẩn vâng mật chiếu của vua Lê Chiêu Tông đem quân từ Bắc Giang về Kinh thành Thăng Long, đánh nhau với quân của Mạc Đăng Dung. Nhưng thế của cánh quân Đàm Thận Huy yếu, không địch nổi với cánh quân thiện chiến của Mạc Đăng Dung, đã bị Mạc Đăng Dung đánh bại ở sông Tây Kiều, Bắc Ninh. Cuộc chiến không cân sức, ngày 3 tháng 8 năm Bính Tuất (1526) (năm này, Ông đã 65 tuổi), Đàm Thận Huy chạy vào núi An Sơn13, miền thượng xứ Kinh Bắc để đánh nhau với quân của Mạc Đăng Dung. Đây là khu căn cứ đã được xây dựng từ năm Nhâm Ngọ (1522), do các ông Đàm Thận Huy, Hà Phi Chuẩn, Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xí,... xây dựng theo chỉ thị của Vua Lê Chiêu Tông, vì ngay từ khi ấy, các ông đã biết âm mưu của Mạc Đăng Dung, cho nên phải xây dựng căn cứ để phòng ngừa. 

Khi quân của Mạc Đăng Dung tiến đến đây, một viên sứ của Mạc Đăng Dung dụ Đàm Thận Huy ra đầu hàng sẽ được ban thưởng bổng lộc và phong quan tước cao. Đàm Thận Huy khảng khái nói: "Bề tôi không thờ hai vua, liệt nữ không lấy hai chồng. Hãy về nói với chủ của nhà người, chí ta đã quyết, chớ có nhiều lời"14. Sau đó, Đàm Thận Huy sang nước Minh để nói rõ sự việc, nhưng không được người Minh giúp, lại quay về Yên Thế. Tại Yên Thế, ông gửi thư về cho gia đình, viết rằng: "Con người ta sinh ra trong khoảng trời đất, lấy trung, hiếu làm vinh, chăm lo đến tước trời thì tước người sẽ đến. Các con nên theo lời dạy của thánh hiền, phải biết thế nào là trung, thế nào là hiếu. Sau khi ta chết, hãy thận trọng, chớ có theo Ngụy triều15, nhận chức tước của Ngụy triều, được thế thì ý nguyện của ta cũng thỏa vậy"16.

Ngày 3 tháng 8 năm Bính Tuất (1526)17, vào nửa đêm, Đàm Thận Huy cùng một số nghĩa sĩ nhìn về Lam Sơn xa xôi (nơi Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược) khấn vái tỏ lòng thành với Triều Lê Sơ, rồi uống thuộc độc tự vẫn, thọ 65 tuổi18. Người nhà và người làng đi theo đem thi hài ông chôn ở núi Đại (núi Cóc) ở Thọ Thành, Bắc Giang. Họ xếp đá làm dấu.

Sách "Khâm định Việt sử thông giám Cương mục" (Chính biên quyển 27), viết:

 "Ất Dậu, năm thứ 10 (1525), (Hoàng Đệ Xuân, vào năm Thống Nguyên thứ 4-Minh19 năm Gia Tĩnh thứ tư). Tháng 12, Đăng Dung giết Phúc lương hầu Hà Phi Chuẩn. Phi Chuẩn đóng quân ở Bắc Giang. Nghe tin Đăng Dung đã bức hiếp đem Nhà Vua về rồi, quân của Phi Chuẩn đều giải tán. Phi Chuẩn bị môn đồ bắt đem đến Kinh đô. Đăng Dung sai thắt cổ giết chết Phi Chuẩn. Bấy giờ, Hàn lâm hiệu lý Nguyễn Thái Bạt bị Đăng Dung cưỡng ép vời đến. Ông giả vờ thong manh, được đến gần, nhân đó, Ông nhổ vào mặt Đăng Dung và mắng chửi ầm ỹ. Lễ Bộ Thượng thư Lê Tuấn Mậu bị Đăng Dung cưỡng ép vào chầu, Ông giấu hòn đá trong tay áo, ném Đăng Dung, không trúng. Cả hai đều bị Đăng Dung giết chết. Lại Bộ Thượng thư Đàm Thận Huy, Kinh Bắc Tham chính sứ Nguyễn Duy Tường, Hiến sát sứ Nguyễn Tự Cường và Bình hồ bá Nghiêm Bá Ký đều thống suất hương binh chống đánh với Đăng Dung; không thắng, được đều tự tử chết".

Sách "Đại Việt Sử ký toàn thư" (tập 2)20, viết:

"Mạc Đăng Dung giết bọn Phúc Lương hầu Hà Phi Chuẩn. Bấy giờ bọn Phi Chuẩn nghe tin Mạc Đăng Dung đã ức hiếp Quang Thiệu đế, bèn giải tán trốn về Bắc Kỳ, bị người cùng bọn là Tử Nhạc Bá bắt giải về kinh sư, thắt cổ giết chết. Phi Chuẩn đã chết, Nghiêm Bá Ký và Nguyễn Xí đi trốn, rồi chết ở châu Văn Uyên21, trấn Lạng Sơn. Đàm Thận Huy vì ngày trước đi sứ đã quen đường, từng chạy báo cho Đà Dương Vương lánh đi, cũng đi trốn rồi chết. Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt đều chết theo nghĩa. Nguyễn Hữu Nghiêm trốn lên huyện Tam Nông22. Sau bị đóng cũi đưa về kinh sư, dùng xe xé xác ra, đem đi rêu rao và giết cả con23. Dương Khải sau cũng bị đóng cũi đưa về Kinh sư, được tha, phải truất ra làm thừa chính sứ Quảng Nam, rồi chết ở nơi trị nhậm. Khải hay nói khôi hài, ai cũng khinh bỉ. Duy có Phạm Khiêm Bính ra yết kiến trước, truất làm Hữu thị lang Hộ Bộ. Nguyễn Mậu Thường theo Quang Thiệu Đế về Thanh Hoa, đến khi Quang Thiệu bị Đăng Dung ức hiếp đưa về, Mậu tự mình về Kinh sư đợi tội. Vua định giết, Phạm Gia Mô tiếc tài của Mậu có thể dùng được, cố can, bèn tha cho, rồi biếm làm Thừa chính sứ Tuyên Quang24, không bao lâu lại cử làm Đô ngự sử đài"25.

Văn bia "Tân tạo tiết nghĩa thần đạo bi ký”, khắc năm Canh Ngọ (1670), tại đền thờ quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy, viết lời ca ngợi Đàm Thận Huy, một tướng công, tính khí ôn hòa, độ lượng, người đã đi khắp bốn biển, trải suốt núi sông, lấy tài trí để cảm hóa thiên hạ, lấy đức nhân để thu phục lòng người. Từ danh sĩ đến các bậc đại thần, thọ lão đều nhận thấy tấm lòng trung quân ái quốc của Cụ. Thầy Đàm Tướng Công là một bậc trung liệt, lấy nghĩa cả vì nước quên thân, giữ trọn khí tiết đến hơi thở cuối cùng.

Lịch sử ghi nhận Triều Lê Sơ có tới 13 vị quan tiết nghĩa được truy tặng phong thần. Các vị cựu thần Nhà Hậu Lê như Lễ Bộ Thượng thư Đàm Thận Huy; Lại Bộ Thượng thư Trạng nguyên Vũ Duệ; Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc; Bảng nhãn Ngô Hoán; Hàn lâm hiệu lý, Hoàng giáp Nguyễn Thái Bạt; Hoàng giáp Thượng thư Lê Tuấn Mậu; Kinh bắc Tham chính sứ Nguyễn Duy Tường; Hiến sát sứ, Hoàng giáp Nguyễn Tự Cường; Bình hồ bá Nghiêm Bá Ký; Đô ngự sử, Hoàng giáp Lại Kim Bảng; Phó Đô ngự sử, Thám hoa Nguyễn Hữu Nghiêm; Lễ Bộ Tả thị lang, Tiến sĩ Lê Vô Cương, Hộ Bộ Thượng thư Nguyễn Thiệu Tri (lúc này đã về trí sĩ) đã có công chống Mạc Đăng Dung làm phản. Họ đều một lòng tử tiết vì Triều Lê Sơ, người thì dấy binh khởi nghĩa không thành, rồi uống thuốc độc tự tử, quyết không chịu đầu hàng Mạc Đăng Dung; người thì mắng chửi, nhổ nước bọt, ném đá vào mặt Mạc Đăng Dung, kẻ cướp ngôi dòng chính thống. Tên tuổi của họ lưu danh muôn thuở. Các vị đều được Nhà Hậu Lê truy phong là bầy tôi tử tiết và được phong là "Tiết nghĩa Đại Vương".

Với Phu nhân của Đàm Thận Huy là Nghiêm Thị Hạo, hiệu Từ Thuận, con gái Tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm, người làng Lan Độ (nay thuộc xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc). Bà có khuôn mặt phúc hậu, có tấm lòng nhân ái, thương người. Nhìn thấy cảnh khổ của người dân, Bà không cầm được nước mắt. Bà là người có kinh nghiệm xây dựng tổ ấm gia đình, hết lòng chăm lo, dạy bảo con cháu. 

Khi Đàm Thận Huy lên Yên Thế, Bắc Giang để mộ quân đánh Mạc Đăng Dung, Bà cũng đi theo chồng, làm công tác hậu cần, phục vụ binh lính. Mùa xuân năm Ất Dậu (1525), Bà mắc bệnh hiểm nghèo, biết mình không thể qua khỏi, liền nói với chồng: "Thiếp thấy họ Mạc thừa thời cơ khởi sự, việc ấy ắt thành. Còn thầy trò Ông vì nước mà khởi binh, xin chớ vì việc thành bại mà ngăn trở chí khí. Những mong lòng trời kính giúp, giữ lấy một phương, để cho thiên hạ còn biết đến họ Lê. Được như vậy, dù thiếp dưới chín suối cũng không lấy làm tiếc"26. Nói xong, Bà trút hơi thở cuối cùng vào ngày 25 tháng 2 năm Ất Dậu, tại Núi Đại ở Thọ Thành. Bà được Vua Lê vinh phong là Hoàng hậu phi nhân.

Hai người con gái Đàm Thận Huy là Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa27 noi gương Cha, không chịu theo Nhà Mạc, chạy lên vùng Yên Thế, tự vẫn ở Cầu Khoai, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Tương truyền rằng, ở vùng Cầu Khoai, một hôm, dân bản đi làm nương rẫy, bỗng thấy có xác hai người con gái nằm chết ở đấy. Trông sắc mặt và trang phục bà con đoán đó không phải là người địa phương. Vì vậy, họ báo với già bản, khi trở lại thì họ rất ngạc nhiên là không thấy thi hài hai cô đâu nữa, mà chỉ có một đống mối to tướng vừa mới đùn lên đêm qua. Dân làng biết hai cô đã hóa, hiển linh. Từ đó về sau, dân bản thấy nơi này ngày một linh thiêng, nên đã lập bàn thờ cúng28. Hai Bà xứng đáng được xếp vào hạng liệt nữ, thật xứng danh cho những người con gái họ Đàm. Cảm động về nghĩa cử của hai Bà, tôi (ĐĐV) làm bài thơ: "Kính gửi hai Bà Hoa nơi chín suối":

"Đàm Thị Dung Hoa - Đàm Thị Quế Hoa

Con quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy.

Liệt nữ linh thiêng nơi chín suối

Tinh thần bất khuất chốn lâm nguy.

Quần the áo vải tràn dũng khí

 Nghìn năm vang bóng áng sử thi!".

 (Giáo sư, Tiến sĩ Đàm Đức Vượng)

 Đến nay, tại Bắc Giang, vẫn còn một số di tích thờ danh thần Đàm Thận Huy, Phu nhân và hai người con gái của ông, bà, hai trang liệt nữ, như đền Quan Lớn, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế; đền Cầu Khoai, Tam Hiệp, Yên Thế; đền Thác Thần, xã Đồng Tâm, huyện Yên Thế; đền làng Diễn, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế. Tại Cầu Khoai, hằng năm, vào ngày 23,24,25 tháng Giêng âm lịch, dân làng mở hội đền để tưởng nhớ đến vị quan trung quân báo quốc Đàm Thận Huy và hai người con gái yêu dấu của Ông là Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa.                                                               

Sau khi mất, Thượng thư Đàm Thận Huy được Triều đình Lê Sơ phong “Thượng đẳng phúc thần” (một vị thần cao quý), lập đền thờ tại làng Ông Mặc (tức làng Me, xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay).           

Mạc Đăng Dung sau khi nghe tin Đàm Thận Huy tử tiết, cũng tỏ lòng kính trọng ông và truy tặng ông tước hầu29.     

Trong cuộc đời làm quan lại cao cấp, Đàm Thận Huy đã có tới 7 sắc phong (đạo sắc) của Triều đình. Sắc phong nào, Nhà Vua cũng đánh giá cao  công lao của Đàm Thận Huy đối với dân với nước.

Sắc phong thứ nhất đề ngày 8 tháng 12, năm Cảnh trị tứ niên (năm 1666, cách đây hơn 350 năm):

“Ban sắc cho ông Đàm tướng công, tên chữ là Mặc Hiên, tên thụy (húy) là Trung Hiến, đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490), làm quan đến Lại Bộ Thượng thư, kiêm Hàn lâm Viện thị độc, Chưởng Hàn lâm Viện sự30, Nhập thị kinh diên31, tước phong Thiếu bảo lâm xuyên hầu32. Tướng công là người nổi tiếng tài năng trong khoa cử, có danh hiệu hiển hách, ở chốn Triều trung, là người có công lao cứu nguy cho Nước, cứu nạn cho Vua, lấy cái tử tiết vì Đế vương để tỏ lòng trung quân ái quốc. Vì đó, đã được Nhà Vua chuẩn ứng phong thêm mỹ tục là: Toàn đức túy hạnh, Cần tiết chính dung, Phù nguy chứng hoán Đại Vương"33. 

Sắc phong thứ hai đề ngày 24 tháng 6 (nhuận) năm Chính Hòa thứ tư (1683), đời vua Lê Hi Tông cho cụ Đàm Thận Huy:

“Ban sắc phong cho Đàm tướng công, thụy là Quả Đạt, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất, làm quan đến Lại Bộ Thượng thư, kiêm Hàn lâm Viện thị độc, Chưởng Hàn lâm Viện sự, Nhập thị kinh diên, tước phong Thiếu bảo lâm xuyên hầu. Ông là người đức hạnh vẹn toàn, phù nguy cứu nạn, giữ nước chăn dân, nên được phong mỹ danh là Khoan nhân chính trực Đại Vương. Về sau, xét thấy Ông có nhiều công lao hiển hách cao quý chốn Triều trung, có công trạng làm cho xã tắc vững vàng như bàn thạch, thái sơn, nên sau Nhà Vua lại phong thêm mỹ tự cao quý là: Cương ngợi hoằng hiu, Vĩ tích thuận lý Đại Vương”.

Sắc phong thứ ba đề ngày 20 tháng 4, năm Cảnh Hưng thứ nhất (năm 1740) cho cụ Đàm Thận Huy:

“Ban sắc cho vị thần linh, với danh hiệu: Hùng vĩ anh linh, Hồng hi Đại Vương, vì Cụ là người thông minh, cương trực, giữ nước chăn dân, phò dân giúp đời, có nhiều mưu hay, kế giỏi để trợ quốc an dân, có nhiều ân huệ sâu sắc và có công trạng lớn lao đối với Vua, với Nước, nên khi Đức tự vương được tiến phong vương vị, người đã gia phong mỹ tự với danh hiệu cao quý là: Hùng vĩ anh linh, Hùng tự anh đức, Thịnh công chính nghi Đại Vương”.

Sắc phong thứ tư đề ngày 8 tháng 8, năm Cảnh Hưng thứ 28 (năm 1767) cho cụ Đàm Thận Huy và cụ bà Nghiêm Thị Hạo Từ Thuận:

“Ban sắc cho ông Đàm tướng công, tự Mặc Hiên, thụy Quả Đạt, đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất, chức Kiệt tiết dực vận34, Tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Lại Bộ Thượng thư, kiêm Hàn lâm Viện thị độc, Chưởng Hàn lâm Viện sự, Nhập thị kinh diên, tước phong Thiếu bảo lâm xuyên hầu, trước đã được phong là Dũng quyết Đại Vương.

Bà Quận phu nhân là Nghiêm Thị Hạo Từ Thuận, trước được phong là: Nhu hòa khoan hậu phi nhân. Nay gia phong mỹ tự cho ông Đàm tướng công là Dũng quyết anh liệt, Cương quả đốc hựu Đại Vương, gia phong mỹ tự cho bà Nghiêm Thị Hạo Từ Thuận là: Nhu hòa khoan hậu, Trang thuận ôn hòa, Từ Ý Hoàng hậu phi nhân”.

Sắc phong thứ năm đề ngày 16 tháng 5, năm Cảnh Hưng thứ 44 (năm 1783) cho cụ Đàm Thận Huy và cụ bà Nghiêm Thị Hạo Từ Thuận:

 “Ban cho ông Đàm tướng công, tự Mặc Hiên, thụy Quả Đạt, đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất, chức vụ Kiệt tiết dực vận, Tán trị công thần35, Đặc tiến kim tử36 Vinh lộc đại phu37, Hộ Bộ Thượng thư, kiêm Hàn lâm Viện thị độc, Nhập thị kinh diên, Thiếu bảo lâm xuyên hầu, tước phong là: Cương quả đốc hựu Đại Vương.

Bà Quận phu nhân là Nghiêm Thị Hạo, hiệu Từ Thuận là người có nhiều phẩm hạnh cao quý đẹp đẽ, trước được phong là Từ Ý, Hoàng hậu Phi nhân.

Nay, Đức Tự Vương gia phong cho ông Đàm Tướng công thêm mỹ tự là Dực thuận hưng bình, Phù chính Đại Vương và gia phong cho Bà Quận phu nhân thêm mỹ tự là Mỹ chất phương tả chi đức, Hoàng hậu phi nhân".     

Sắc phong thứ sáu đề ngày 21 tháng 5 năm Cảnh Thịnh (1796) cho cụ Đàm Thận Huy và Bà Nghiêm Thị Hạo Từ Thuận: 

"Ca ngợi vị Đại Vương, biểu dương những công lao hiển hách, những phẩm chất cao quý đáng kính, tài đức, thông minh tuấn kiệt của vị thần có công lao. Hộ quốc an dân. Nhà Vua đã gia phong mỹ tự, với danh hiệu sau: Minh chí chiêu huấn Đại Vương. 

Bà Quận phu nhân là Nghiêm Thị Hạo, hiệu Từ Thuận là người có nhiều phẩm hạnh cao quý đẹp đẽ. Trước được phong là: Từ Ý Hoàng hậu phi nhân. Nay Đức Tự Vương gia phong cho ông Đàm tướng công thêm mỹ tự là: Dực thuận hưng bình, Phù chính Đại Vương và gia phong cho bà Quận phu nhân thêm mỹ tự là: Mỹ chất phương tả chi đức, Hoàng hậu phi nhân”.

Sắc phong thứ bảy đề ngày 21 tháng 7 năm thứ hai Vua Minh Mạng (1821) cho Tướng công Đàm Thận Huy:

"Ban sắc cho Tướng công Đàm Thận Huy, chữ Mặc Hiên, tên thụy Quả Đạt, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất, làm quan đến Kiệt tiết dực vận, Tán trị công thần, Đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, Thượng thư Bộ Lại, kiêm Hàn lâm Viện thị độc, Nhập thị kinh diên, tước phong Thiếu bảo lâm xuyên hầu; có công giữ gìn đất nước, che chở cho dân; công đức chói ngời, trải qua các triều đại đã được phong tặng.

Riêng Trẫm là Thế Tổ Cao Hoàng Đế đã dày công mở mang bờ cõi, để làm sáng danh cơ đồ Hồng Lạc. Nay gia phong cho ông: Tráng tiết đôn nghĩa. Vậy chuẩn giao cho xã Ông Mặc, huyện Đông Ngàn, cứ theo như cũ mà phụng sự".

Có thể nói, cho đến nay, trong dòng tộc họ Đàm Việt Nam, Đàm Thận Huy là người được Triều đình phong nhiều sắc nhất, cũng là người giữ chức vụ cao: Thượng thư (như Bộ trưởng ngày nay). Ông là người có khí tiết, hết lòng vì non sông xã tắc, một trí thức lớn, có nhân cách, tư cách, được mọi người rất kính nể.

Đánh giá khái quát về Đàm Thận Huy, sách "Toàn Lê tiết nghĩa" viết:

"Học vấn gia đình tướng tướng khoa

Ô đài, Đẩu tọa đế ân đa.

Kiệt thành báo quốc ngô năng sự

Thiên ý nan hồi, khả nại hà".

 Nghĩa là:

 "Gia đình học vấn, gồm cả tướng võ, tướng văn

 Ô đài38, Đẩu tọa39, ơn Hoàng đế thật nhiều.

 Việc mà ta có thể làm là dốc hết lòng thành để báo đền quốc gia

 Ý trời khóa vãn hồi biết phải làm sao"40.

 Dịch thơ:

 "Gia đình học vấn tướng võ văn

 Mưa móc ơn sâu gấp nghìn trăm

 Lòng thành quyết báo đền nợ nước

 Ý trời tỏa sáng khắp muôn năm!"

 (Dịch thơ: Giáo sư, Tiến sĩ Đàm Đức Vượng).

 Đàm Thận Huy mất đi, để lại bộ sách “Mặc Trai thi tập”, gồm những bài thơ do Ông sáng tác. Nguyễn Dữ, một quan to trong Triều Lê Sơ, Tác giả cuốn sách nổi tiếng "Truyền kỳ mạn lục", người cùng thời với Đàm Thận Huy, đã đánh giá cao thơ của Đàm Thận Huy, xem Đàm Thận Huy là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Triều Lê Sơ. Trong cuộc nói chuyện về thơ ở Kim Hoa đã viết về cuộc đối thoại về thơ giữa nữ học sĩ thời Lê Sơ là Ngô Chi Lan với nhà thơ Sái Thuận, khi bàn về các nhà thơ thời Lê Sơ, cho rằng: "Như ông họ Đỗ ở Kim Hoa (Đỗ Nhuận), ông họ Trần ở Ngọc Tái (Trần Hoành), ông họ Đàm ở Ông Mặc (Đàm Thận Huy), ông họ Vũ ở Đường An (Vũ Quỳnh), thảy tung hoành cao xa"41. Sách "Đàm thị gia kê" cũng dẫn lại đoạn văn trên.

Trong thơ vịnh về các nhân vật lịch sử Việt Nam, Vua Tự Đức đánh giá Đàm Thận Huy: 

"Tao đàn tứ thất liệt quần tinh

Sinh hữu tài danh tử hữu linh".

(Tao Đàn bốn bảy42 vị minh tinh

Sống rất tài danh chết hiển linh).

(Giáo sư, Tiến sĩ Đàm Đức Vượng dịch).

Trong số 47 nhà thơ trong Hội Tao Đàn, Đàm Thận Huy nổi lên như một bậc tài danh.     

Sách "Toàn Việt thi lục" của Lê Quý Đôn43 chép 14 bài thơ của Đàm Thận Huy,...

Hầu hết các bài thơ của Đàm Thận Huy được sáng tác dưới Triều Vua Lê Thánh Tông.

Thơ Đàm Thận Huy là thơ cung đình, ca ngợi đời trị, ca ngợi cung đình, lòng tận trung với vua, tấm lòng trung quân với Triều Lê, đồng thời, bày tỏ tấm lòng vì giang sơn xã tắc. Đó là cái đức thơ của Ông, rất đáng được trân trọng. Trong bài "Phụng họa ngự chế anh tài tử", Đàm Thận Huy viết:

"Các bậc anh tuấn xưa nay được sủng ái, ân vinh mới,

Là do đem hết tài năng giúp rập nhà vua.

Thơ Lý Bạch44  làm thành, lời trấn trị quỷ thần,

Phú Tương Như45 làm xong, khí phách vượt tầng mây.

Công lao với sách vở, chí khí nuốt trâu thêm khỏe,

Ngọn bút khỏe khoắn, lời văn nhả phượng đua tuôn.

Tiểu thần được cầm bút bồi tòng xa giá,

Thề đem thực học đáp đền Nghiêu Thuấn"46.

Thơ Đàm Thận Huy sáng ở cái tâm, cái đức, cái tình cảm chân thành với vua, với dân và với những người thân, xứng đáng là bậc trung quân ái quốc. Thơ Ông trau chuốt, dùng từ cẩn thận, tuy không cầu kỳ về chữ nghĩa và vần điệu. Vì vậy, hậu thế đã có rất nhiều bài viết ca ngợi Ông. Trong "Diễn quốc âm trường thiên khúc", dài 416 câu, trong đó, từ câu 89 đến câu 149 dành để ca ngợi danh thần Thượng thư Đàm Thận Huy mà Nguyễn Tá Nhi đã dẫn ra trong bài viết của mình: "Tình cảm của dân làng Cô Mặc đối với danh thần tiết nghĩa Đàm Thận Huy" (in trong Kỷ yếu Hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy):

"Ngô Tiền thôn có dòng Đàm Thị47,
Tự Thận Huy tài khí đầu khôi48.
Cửa đơn tuổi trẻ bồ côi
Giữ niềm hiếu hữu chẳng dời nương long49.
Kỳ diệu phùng đồng bào một gã50 ,
Sớm khuya thường gióng giả tiệc văn.
Lê Triều Canh Tuất hội xuân,
Vin cành đan quế, dạo sân đan trì.
Giản khoa em lại đam bề,
Mười năm một cửa vinh quy hai lần51.
Lửa đai cân bén duyên kỳ ngộ,
Vị cao thăng Lễ Bộ Thượng thư.
Lâm xuyên bá tước danh xưa,
Ơn trên đã hậu thừa lưa52 dồi dào.
Lại kế theo công thi một tập,
Lời tụng truyền dậy khắp trời Nam.
Đều khen Hương Mặc chi Đàm,
Họ Thân, họ Đỗ kể làm lứa đôi53.
Phận làm tôi sáu triều54 vẹn đạo,
Cả hiềm chi bính đảo trái duyên55.
Đương triều tôi lộng56 cầm quyền,
Tìm đường thao hối57 về miền hương quan.
Tiếng càng ran kim chung mộc đạc58
Dựng học trường chấn tác văn phong.
Mây tuôn đòi tiếng anh hùng
Khi đưa trận bát đủ dùng tam khôi.
Đừng cậy có nhiều tài giúp nước,
Nở lòng riêng nội lục59 thường ưu.
Cửu như lần chúc ngôi trời,
Bởi đâu Mạc tiếm dã dời vạc Lê60.
Vốn chẳng mê giam danh tỏa lợi61,
Gánh trung cần nặng túi quản bao.
Bút nghiên gồm việc cung đao,
Vây đoàn cửa Bắc thể đào non Đông62.
Đòi trận xông tro bay bụi cát,
Mây trời xưa chuyển bát chỉn khôn63.
Trỏ non Yên Thế bước dồn,
Nếm bài tiên dược đưa hồn lên tiên.
Phận đã yên một bề trung nghĩa,
Khí hạo nhiên lần kể khôn cùng.
Mạc Triều tinh biểu sắc phong64,
Chở vào miếu vũ xây bùng nên tro.
Danh tiết nghĩa thơm tho bấy nhẽ,
Lòng trời chi phụ kẻ trung cần.
Kỳ Lê may lại hồi xuân,
Gia phong thượng đẳng phúc thần vinh quang.
Ba chữ vàng biển đề chói chói,
Tiết nghĩa từ hương khói nghìn thu.
Nối sau có đứa sư mô,
Quan trời tước nước, khá so tiền trình".

Đàm Thận Huy không chỉ làm thơ, mà con viết văn xuôi. "Sĩ hoạn châm quy" là tác phẩm văn xuôi của Ông, ghi chép về khuôn phép quy tắc của người làm quan, khuyên bảo người làm quan phải có tư cách đạo đức, biết đối nhân xử thế. 

Trong cuốn sách "Sĩ hoạn châm quy" mang ký hiệu A.594, hiện đang lưu trữ tại kho sách của Viện Hán Nôm, thì ngay trang đầu tiên là phần mục lục đã liệt kê các điều mục mà những người làm quan nên làm như: "Chính tâm tu thân (tu luyện thân mình cho lòng ngay thẳng); bảo thủ bổng lộc (biết quý trọng giữ gìn bổng lộc); ngự hạ nghiêm túc (nghiêm túc đối với kẻ dưới quyền); hữu ái liêu bằng (phải yêu thương quý trọng bạn bè đồng nghiệp); chi nhiệm tu tri (nên biết gánh vác trách nhiệm của mình)".

Theo Đàm Thận Huy trong sách "Sĩ hoạn châm quy", thì phàm những người làm quan trước tiên phải tu luyện cho lòng mình ngay thẳng, sau đó mới giúp người khác ngay thẳng được. Trước hết, tâm phải ngay thẳng, thì mới làm tốt công việc được. Cái thiện, ác của con người không phải từ tâm mà ra sao. Tâm làm cho trái tim mình luôn luôn ngay thẳng, thì mới có cơ hội tu được thân, mới ổn định được gia đình. Việc gia đình có lo được, thì việc nước mới lo được, lo được việc nước thì việc nhà sẽ yên. Phàm người làm quan mà ngay thẳng, thì dù không ra lệnh, thì công việc vẫn được thi hành, còn nếu như cái thân không ngay thẳng, thì dù có ra lệnh mọi người cũng không nghe theo. Thân ngay thẳng, thì lòng dạ sẽ không cong queo, lòng ngay thẳng thì suy nghĩ sẽ không bừa bãi. Dòng nước thẳng, thì dòng chảy của nó tất sẽ lắng trong, cây thẳng thì bóng của nó tất sẽ thẳng. Đất nước chính nghiêm, thì nhân dân mới thuận, thần có bề tôi, thì nhân dân sẽ trung thành. Đó là cái đạo lý ở đời.

Về vấn đề bổng lộc khi làm quan, trong sách "Sĩ hoạn châm quy", Đàm Thận Huy cũng phân tích hết sức sâu sắc. Có lẽ Đàm Thận Huy là ông quan duy nhất bàn về bổng lộc và sử dụng bổng lộc. Thông thường, người ta càng được nhiều bổng lộc, thì càng giấu kín, chẳng ai dám nói ra để cho bàn dân thiên hạ biết. Theo Đàm Thận Huy, phàm đã làm quan đều có bổng lộc, dù ít dù nhiều, điều cốt lõi là phải nghĩ đến dân, không được hoang phí, bổng lộc nên dùng vào việc làm từ thiện. Những gia đình có bổng lộc, thì không được tranh lợi với dân. Những gia đình làm quan có bổng lộc, thì không được tranh lợi với dân. Bổng lộc quý trọng là ở chỗ người biết giữ gìn, thì nó giống như nước của dòng suối ngọt chảy không bao giờ cạn kiệt, còn nếu ở người không biết giữ gìn, thì cũng như nước thủy triều sáng thì đầy tràn mà tối thì cạn khô. Người mà được cái nhà trên mảnh đất không, thì cũng nên biết tu sửa, chăm nom vườn tược, biết trồng rau, biết cày bừa, một công việc thường ngày cần phải làm, đó không phải là người biết tính toán, tiết kiệm sao.

Tóm lại, sách "Sĩ hoạn châm quy" của Đàm Thận Huy là cuốn sách viết về đạo lý làm người. Tuy Ông viết ở thời kỳ phong kiến, nhưng ngẫm đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Người thời nay, làm quan, nếu biết liêm sỉ ở đời, trước hết, xin hãy đọc "Sĩ hoạn châm quy" của Đàm Thận Huy.

 Bên cạnh những áng văn thơ truyền lại ca ngợi danh thần Đàm Thận Huy là những câu chuyện cảm động về nhà sư phạm, thầy giáo Đàm Thận Huy. Ông là một ông quan to thanh liêm, đồng thời, còn là một nhà sư phạm uyên bác. Có nhiều giai thoại văn học về mối quan hệ giữa thầy Đàm Thận Huy với các học trò65. Truyện kể rằng, trong một buổi học, đến giờ nghỉ, thì trời mưa như trút nước, cả thầy và trò đều không về được, đành phải ở lại lớp để chờ cơn mưa tạnh. Trong lúc nghỉ, thầy Đàm Thận Huy liền ra vế đối để có dịp tìm hiểu trí thông minh và nhân cách học trò. Vế đối của thầy Đàm Thận Huy là:

"Vũ vô quan tỏa năng lưu khách"

(Mưa không có cửa, không có khóa mà cũng giữ được khách, không cho khách về).

Học trò Nguyễn Giản Thanh đối lại như sau:

"Sắc bất ba đào dị nịch nhân"

(Sắc đẹp không có sóng gió, mà cũng dễ làm say đắm lòng người).

Nguyên do là gia đình thầy Đàm Thận Huy có những người con gái đẹp, Nguyễn Giản Thanh mới đối như vậy, ngụ ý muốn "tìm hiểu" con gái Thầy. Nhưng thầy Huy lại là một người nghiêm nghị, tuy phục tài Nguyễn Giản Thanh, nhưng chưa vừa ý về người học trò lãng mạn này. Một số học trò khác đứng đấy tỏ vẻ không hài lòng về Nguyễn Giản Thanh, vì theo quan niệm của Khổng giáo xưa, người thầy có một địa vị rất cao quý trong xã hội (quân, sư, phụ), chỉ kém có vua. Nhắc lại việc tình ái trước mặt Thầy là vô lễ. Thầy Huy nghe xong khen rằng, câu đối này hay lắm, giọng văn có thể đỗ Trạng được, nhưng sau dễ say đắm vào vòng sắc dục, làm ảnh hưởng đến hành trạng.

Tiếp đó, một người học trò khác tên là Nguyễn Chiêu Huấn lại đối:

"Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân".

(Mặt Trăng trông giống cái cung mà chẳng bắn ai).

 Thầy Đàm Thận Huy:

 "Câu này kém sắc sảo, không hay bằng câu kia, nhưng tỏ ra khí chất hiền hòa, sau này sẽ làm nên, cuộc sống sẽ chu toàn".

Một người học trò khác tên là Nguyễn Hữu Nghiêm đối rằng:

"Phẩn bất kinh quyền, dị tịch nhân"

(Phân không có quyền thế, nhưng có thể làm cho người ta khiếp sợ, né tránh).

Một người học trò hỏi Nguyễn Hữu Nghiêm:

 - Sao anh lại dùng chữ "phẩn" nghe thô tục quá?

 Nguyễn Hữu Nghiêm:

 - Tôi đối như thế để có ý tương phản câu đối vừa rồi, vì đã có những thiếu lễ với Thầy, nói tới tình ái trước mặt Thầy.

Thượng thư Đàm Thận Huy có nhiều học trò giỏi, như Nguyễn Giản Thanh, Nguyễn Hữu Nghiêm,...

Nguyễn Giản Thanh thi đỗ thủ khoa, rồi đỗ Trạng nguyên66 đời Vua Lê Uy Mục (1508).

Nguyễn Hữu Nghiêm (tên thụy là Thuần Nhất), người làng Thọ Khê (làng Nét), nay thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, là người thông minh, học giỏi, được gia đình cho theo học thầy Đàm Thận Huy ở làng Me (Hương Mạc). Với kiến thức uyên thâm, lại được thầy Đàm Thận Huy dạy bảo, nên năm 18 tuổi đậu Thám hoa, làm tới chức quan Thị lang67 trong Hàn lâm Viện. Làm quan đồng thời với thầy dạy Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm luôn được noi theo tấm gương trung chính của thầy Đàm Thận Huy, đem hết sức mình phò vua giúp nước, là một trong những viên quan liêm khiết, tài năng, được thăng làm Thượng thư, Chưởng Hàn lâm Viện sự.

Nguyễn Hữu Nghiêm cũng là một nghĩa sĩ có tên trong cuốn "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nguyễn Hữu Nghiêm theo thầy Đàm Thận Huy khởi binh tại vùng Bắc Giang, chống Nhà Mạc. Ngày 1 tháng Giêng năm Quý Mùi (1523), quân của Đàm Thận Huy đại chiến với quân của Mạc Đăng Dung. Quân của Đàm Thận Huy, thắng lớn ở Yên Thường, Từ Sơn, rồi sau đó rút về Thị Cầu, Bắc Ninh, rồi sau đó lại đánh nhau với quân Mạc. Quân của Đàm Thận Huy lại thắng lớn, bắt sống tướng Mạc, thu nhiều voi, ngựa. Trải qua nhiều năm, đánh nhau hàng trăm trận, sau vì thế lực yếu, không dẹp được họ Mạc, Đàm Thận Huy cùng Nguyễn Hữu Nghiêm rút về giữ thành Bảo Thọ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Sau cái chết của thầy Đàm Thận Huy được ít lâu, Nguyễn Hữu Nghiêm cũng bị quân của Mạc Đăng Dung bắt. Con Ông đi cùng Cha cũng bị bắt và cả hai cha con đều bị Mạc Đăng Dung giết hại tại Thăng Long.

Những người họ Đàm Việt Nam vô cùng tự hào về quan Thượng thư tiết nghĩa Đàm Thận Huy, người đã để lại tấm gương sáng cho các thế hệ hậu duệ của họ Đàm Việt Nam. Ông là vị quan văn võ song toàn, thanh liêm, có lòng trung quân ái quốc, một người suốt đời theo đạo, hành đạo, tử vì đạo. 

Họ Đàm Thận ở Bắc Ninh cũng là dòng họ Đàm lớn nhất ở Việt Nam từ trước tới nay. 

Kể từ khi Đàm Thận Huy mất (1526) đến nay (2026) đã được 500 năm. Trong 500 năm ấy, vật đổi sao dời, nhưng đền thờ quan Thượng thư tiết nghĩa Đàm Thận Huy ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh vẫn còn đó. Đền thờ được xây dựng từ năm 1666, nghĩa là sau khi Đàm Thận Huy mất 138 năm, Đền mới được xây dựng, vì năm 1666, Vua Lê Huyền Tông phong Tiết nghĩa cho 13 vị đại thần, trong đó, Đàm Thận Huy được truy phong "Tiết nghĩa Đại Vương". Đền thờ gồm 2 nhà, 3 gian, toàn làm bằng gỗ lim, lợp ngói dày. Nhà tiền tế có cửa gạch xây cao, cuốn tò vò. Ngôi đền đã trải qua nhiều lần tu sửa. Năm 1917, sửa chữa lớn tòa hậu đường. Năm 1949, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, Đền bị tháo dỡ. Năm 1962, Đền được khôi phục trên nền đất cũ. Năm 2001, sửa chữa lớn tòa tiền tế. Năm 2013, Đền được trùng tu cơ bản. Hiện Đền thờ quan Thượng thư tiết nghĩa có kiến trúc hình chữ "Công", gồm bộ phận tiền tế, nhà chuyển bồng và hậu đường, hai bên là nhà tả vu và hữu vu. Hai gian bên là ban thờ tổ tiên cùng các bậc tiền nhân trong dòng họ Đàm Thận.

Hệ thống hoành phi, câu đối của nhà thờ, tôi (ĐĐV) thấy có nhiều, trong đó, có những bức hoành phi làm bằng gỗ quý, như bức hoành phi "Vạn cổ cương thường" do Vua ban tặng từ khi xây dựng Đền. Tấm biển đang treo trong Đền có hàng chữ "Giáo tử đăng khoa", do Vua ban từ khi xây dựng Đền. Đây là tấm biển có giá trị, làm bằng gỗ tốt, cán sơn đỏ, chữ bằng bạc, có phủ hoàn kim. Trong Đền thờ còn giữ được nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật như ngai thờ, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối, đồ thờ tự, có niên đại từ Triều Lê Sơ...

Bên ngoài cửa nhà tiền tế là tòa Tam môn, cấu trúc vòm, trên đỉnh có gắn biển bằng đá, ốp kính, với ba chữ lớn: "Tiết nghĩa tử" do Vua ban. Cửa bên phải phía trên khắc hai chữ "Thần tiết"; cửa bên trái phía trên khắc hai chữ "Minh lương". Trên đỉnh tam môn ở chính giữa còn có bức cuốn thư khắc bài thơ do Vua Tự Đức ban phong ca ngợi khí tiết cao cả trung dũng của quan Thượng thư Đàm Thận Huy. Toàn bộ tam môn có 4 cột trụ xây cao, hai cột nhỏ hơn đều có câu đối khắc chìm.

Tại Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh, các thế hệ hậu duệ quan Thượng thư tiết nghĩa Đàm Thận Huy còn lưu giữ được nhiều tài liệu Hán - Nôm quý, gồm các sách lịch sử, kinh điển, địa lý, âm dương, ngũ hành, tử vi, lý số, gia phả, thơ văn, câu đối, văn tế, văn cúng, di chúc, sách thuốc và y thuật,... 69 .

Có thể nói Đền thờ quan Thượng thư Đàm Thận Huy ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh là một công trình lớn, hoành tráng, rất xứng đáng là di tích tầm cỡ quốc gia.

Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận… ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ trước tới nay khá phong phú, đa dạng, Trong bài viết của thạc sĩ Trần Thị Ngọc Uyển, nhan đề: "Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay", in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy" đã phản ánh khá đầy đủ. 

Theo thạc sĩ Trần Thị Ngọc Uyển, thì mỗi dòng tộc, nhất là các dòng tộc lớn như dòng tộc Đàm Thận... đều có truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của mình. Những nét riêng đó góp lại hình thành nên nền văn hóa dân tộc. Văn hóa các dòng họ chính là cơ sở, nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia. "Vì vậy, việc nghiên cứu về dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nhận thức, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc"70.   

Họ Đàm Việt Nam vô cùng tự hào về Thượng thư Đàm Thận Huy, một tài năng siêu việt, đầy khí tiết, tấm lòng thành, trung quân, ái quốc. Không những chỉ một mình ông, mà cả gia đình ông đều trung quân, ái quốc. Rõ ràng, đây là một gia đình có một không hai của Họ Đàm Việt Nam.

------

1. Bài này, tin trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 235. 

2. “Quỳnh uyển cửu ca” có nghĩa là 9 khúc ca trong vườn Quỳnh. Có 9 bài thơ được phổ nhạc, cho nên gọi là “cửu ca”.

3. Đỗ đồng tiến sĩ có nghĩa là tam giáp tiến sĩ là ba mức độ trong kỳ thi hội và thi đình dưới thời phong kiến, gồm trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Đệ nhất giáp là trạng nguyên, đệ nhị giáp là bảng nhãn, đệ tam giáp là thám hoa (người đỗ đầu, đỗ thứ hai, đỗ thứ ba gọi là tam giáp).

4. Thượng thư Hình Bộ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp thời phong kiến.

5. Hàn lâm Viện thị độc là một chức quan thời phong kiến ở Hàn lâm Viện. Dưới Triều Lê Thánh Tông, Hàn lâm Viện là Viện bao gồm những người có tài văn học, chuyên giúp vua soạn thảo thơ văn, chiếu chỉ. Thừa chỉ là người đứng đầu Hàn lâm Viện.

6. Thượng thư Lại Bộ là Bộ trưởng Bộ quan lại, làm công việc quan lại thời phong kiến (nay thường gọi là công tác cán bộ - nhân sự).

7. "Thiếu Bảo" là chức quan to trong triều đình phong kiến.

8. Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí (Nhân vật chí), Nxb Trẻ, 2014, tr. 407, 408.

9. Thượng thư Lễ Bộ: Hàm Bộ trưởng như bây giờ, chuyên trông coi việc lễ nghĩa.

10. Nếu kể cả Vua Lê Thánh Tông là 29 vị, thành "Tao đàn nhị thập cửu tú". Có sách còn chép thêm: Nguyễn Trực; Lương Thế Vinh; Lê Tuấn Ngạn; Ngô Sĩ Liên; Phạm Phúc Chiêu; Thái Thuận,... Có thể những người này được bổ sung sau. Như vậy, Hội Tao đàn lên tới hơn 30 người.

11. Dẫn theo bài "Thơ của Đàm Thận Huy" của Tiến sĩ Phạm Văn Ánh (đã dẫn).

12. Đánh giá về nhân vật Mạc Đăng Dung hiện vẫn còn những ý kiến khác nhau. Những vị đại công thần, đại trung thành với Triều Lê Sơ, tiếp đó là Nhà Lê Trung Hưng, thì cho rằng, Mạc Đăng Dung là kẻ phản nghịch. Nhưng một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, đến đời Vua Lê Uy Mục (Lê Tuấn) và đời Vua Lê Tương Dực (Lê Oanh) đã sa vào vòng ăn chơi, trụy lạc, không còn biết liêm sỉ là gì. Rồi đến đời Vua Lê Chiêu Tông (Lê Ý), đất nước lâm loạn, dân chúng đói khổ, đời Vua Lê Cung Hoàng (Lê Xuân)), Nhà Hậu Lê đã rơi vào tình trạng suy vi, thì việc Mạc Đăng Dung nổi lên cướp ngôi vua của Nhà Lê, là việc làm “thuận với ý trời”. Còn các vị trung thần Nhà Lê thì được hưởng quá nhiều bổng lộc, cho nên việc trung thành với Nhà Lê là đương nhiên. Nhưng việc Mạc Đăng Dung giết chết Vua Lê Chiêu Tông, là việc làm độc ác, không thể tha thứ. Với Mạc Đăng Dung, sau khi tiếm ngôi vua, cũng chẳng làm nên trò trống gì. Thế sự nát bét, dân tình điêu đứng. Đây là cái tội của Mạc Đăng Dung, mà lịch sử cần phải phán xét.

13. Núi An Sơn có thể là núi Yên Thế, thuộc Bắc Giang ngày nay (ĐĐV).

14. Theo "Gia phả họ Đàm Thận", thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh.

15. Ý nói Mạc Đăng Dung (ĐĐV).

16. Theo "Gia phả họ Đàm Thận", thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh.

17. Theo bài "Đàm Thận Huy với việc xây dựng căn cứ chống Mạc trên đất Bắc Giang" của Nguyễn Văn Phong, in trong "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 113,114, thì Đàm Thận Huy tử tiết ngày 3 tháng 8 năm Bính Tuất (1526). Có sách chép Đàm Thận Huy mất năm Mậu Tý (1528). Theo tôi (ĐĐV), Đàm Thận Huy mất vào năm Bính Tuất (1526), chứ không phải năm Mậu Tý (1528). Trong sách “Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam” của Đinh Văn Niêm, Nxb Lao động và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2014, tr. 152, cũng ghi Đàm Thận Huy sinh năm 1463 và mất năm 1526.

18. Đền thờ quan tiết nghĩa Đại Vương Đàm Thận Huy đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng theo Quyết định số 28/BVH, ngày 28-1-1988, tại Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh.

19. "Minh": Nhà Minh bên Trung Quốc.

20. Nhà Xuất bản Thời đại, Hà Nội, 2010, tr. 597. 

21. Châu Văn Uyên: Nay là huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn.

22. Huyện Tam Nông: Nay vẫn là huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phúc.

23. Sự kiện này phản ánh sự tàn bạo, dã thú của Mạc Đăng Dung.

24. "Thừa chính sứ Tuyên Quang" là thừa lệnh nhà vua tại tỉnh Tuyên Quang.

25. "Đại Việt Sử ký toàn thư", tập 2, sđd, tr. 598.

"Ngự sử đài" là chức quan chuyên làm công việc can gián nhà vua thời phong kiến.

26. Dẫn theo "Gia phả họ Đàm Thận", thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh.

27. Hiện nay, tại Cầu Khoai, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, vẫn còn đền thờ hai Bà Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa. Trong đền có bức hoành phi ghi là: 

"Địa trung linh" (Sự linh thiêng ở trong mảnh đất này).

"Song nga hiển thánh" (hai cô con gái mất đi hiển thành thánh mẫu ở nơi đây).

"Vạn cổ anh linh" (muôn thuở vẫn còn linh thiêng)

(Dẫn theo bài "Đàm Thận Huy với quê hương Bắc Giang" của Trần Văn Lạng, in trong "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 129.

28. Dẫn theo bài "Đàm Thận Huy với quê hương Bắc Giang" của Trần Văn Lạng, in trong "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 128. 

29. Tước hầu là chức tước thời phong kiến, dưới tước công, trên tước bá, gọi là công tước, hầu tước, bá tước.

302 “Chưởng Hàn lâm Viện sự” là chức quan cao cấp trong Viện Hàn lâm thời phong kiến.

31.“Nhập thị kinh diên” là chức quan chuyên nghiên cứu và giảng dạy trong Viện Hàn lâm thời phong kiến.

32. “Thiếu bảo lâm xuyên hầu” là chức quan to trong triều đình phong kiến.

33. Trong bài "Những tư liệu Hán Nôm được hậu duệ cụ Đàm Thận Huy thôn Hương Mạc đang lưu giữ" của tác giả Nguyễn Quang Khải, in trong "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr. 196, viết là "chửng hoán".

34. "Kiệt tiết dực vận" là anh hùng hào kiệt.

35. "Tán trị công thần" là người có công lao to lớn.

36. "Đặc tiến kim tử" là người đàn ông đặc biệt.

37. "Vinh lộc đại phu" là người đàn ông đại trượng phu, vinh quang và bổng lộc.

38. "Ô đài": Ngự sử đài, chức quan cao cấp chuyên cán gián nhà vua thời phong kiến, một chức vụ của Thượng thư Đàm Thận Huy.

39. “Đẩu tọa”: Ngôi sao Bắc Đẩu, một trong những ngôi sao của chòm sao Huyền Vũ (sao Đẩu, sao Ngưu, sao Nữ, sao Hư, sao Nguy, sao Thất, sao Bích); ý nói Thượng thư Đàm Thận Huy là một trong những ngôi sao của Hội Tao đàn Nhị thập bát tú.

40. Dịch nghĩa, rút trong bài "Thơ của Đàm Thận Huy" của Tiến sĩ Phạm Văn Ánh, sđd, tr. 92.

41. Dẫn theo bài "Thơ Đàm Thận Huy" của Tiến sĩ Phạm Văn Ánh, in trong "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", tr. 93.

42. Vua Tự Đức nói Hội Tao Đàn có tất cả 47 người. Chắc Nhà Vua tính cả những người bổ sung sau, còn lúc đầu chỉ có 28 người.

43. Lê Quý Đôn (Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường - 1726-1784), nhà bác học, nhà văn Việt Nam, người thôn Diên Hà, huyện Diên Hà, tỉnh Thái Bình.

44. Lý Bạch (701-762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, Nhà thơ Trung Quốc xưa.

45. Tương Như: người làm thơ phú nổi tiếng đời Nhà Hán.

46. Dẫn theo bài "Đàm Thận Huy - một tấm gương trung nghĩa Triều Lê" của Thạc sĩ Võ Mạnh Hà, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr.106.

47. Có thể là dòng "Đàm Thận".

48. "Đầu khôi" là người có tài thi đỗ đại khoa.

49. "Nương long" là biểu tượng rồng (vua), thêu ở áo trước ngực.

50. "Đồng bào một gã" là anh em sinh ra cùng một bào thai.

51. "Vinh quy hai lần”: Hai lần được triều đình ban ân cho được về vinh quy bái tổ, là Đàm Thận Huy thi đỗ tiến sĩ năm 1490 và em trai Ông là Đàm Thận Giản thi đỗ tiến sĩ năm 1499.

52. "Thừa lưa", từ Hán Nôm cổ, ý nói là dư dật.

53. Ý nói Đàm Thận Huy, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận là những người trong Hội Tao Đàn của Lê Thánh Tông.

54. Đàm Thận Huy làm quan dưới sáu triều vua Lê Sơ.

55."Bính đảo trái duyên" là đảo ngược chuôi dao, ý nói vận nước đã thay đổi, họ Mạc nắm quyền cai trị, thay họ Lê.

56. "Đương triều tôi lộng": Ý muốn nói bọn bề tôi lộng quyền.

57. "Tim đường thao hối" là tìm đường đi ẩn danh, ẩn tích.

58. "Kim chung mộc đạc": Chuông vàng mõ gỗ

59. "Nội lục": Đồng quê.

60. Ý nói Nhà Mạc đã chiếm ngôi Nhà Lê Sơ.

61. "Giam danh tỏa lợi": Bị danh lợi trói buộc, phong tỏa.

62.  "Non Đông" là vùng đất Hải Dương.

63. Ý nối rất khó chuyển biến tình hình..

64. Ý nói Mạc Đăng Dung cũng phải phục khí tiết của Đàm Thận Huy.

65. Xem bài "Một số giai thoại văn học về thầy trò Đàm Thận Huy" của Nguyễn Văn Sơn, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd, từ tr.138 đến tr. 142. 

66. Khoa bảng Việt Nam thời phong kiến đã có 47 vị  (thống kê chưa đầy đủ) đỗ Trạng nguyên. Nguyễn Giản Thanh là một trong số 47 vị đó.

67. “Thị lang” là chức quan của triều đình phong kiến, dưới bậc quan tham tri. Tham tri là quan dưới chức thượng thư, tương đương với thứ trưởng bây giờ.

68. Dẫn theo bài "Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đền thờ Đàm Thận Huy" của Nguyễn Duy Nhất - Nguyễn Thị Lan, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd, tr. 185.

69. Danh mục những tài liệu trên đã được liệt kê trong bài "Những tư liệu Hán - Nôm được hậu duệ cụ Đàm Thận Huy thôn Hương Mạc đang lưu giữ" của Nguyễn Quang Khải, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd, từ trang. 193 đến trang 203.

70. Thạc sĩ Trần Thị Ngọc Uyển: Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd, tr. 213.

(Đăng bài: Quỳnh Nga)