Mới cập nhật

THƯỢNG THƯ ĐÀM THẬN GIẢN

GS,TS Đàm Đức Vượng


Đàm Thận Giản, hiệu Minh Huệ, sinh năm Bính Tuất (1466), (chưa rõ năm mất), Triều Vua Lê Thánh Tông. Ông là người xã Ông Mặc, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là thôn Hương Mạc (làng Me), xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Đàm Thận Giản là em trai ruột Thượng thư Đàm Thận Huy.

Đàm Thận Giản sinh ra và lớn lên tại miền quê có truyền thống hiếu học. Riêng họ Đàm ở Hương Mạc có những vị tiến sĩ nổi bật tên tuổi là Thượng thư Đàm Thận Huy, Thượng thư Đàm Đình Cư, Hoàng giáp1 Đàm Thận Giản…

Năm Kỷ Mùi (1499), Đàm Thận Giản đỗ Hoàng giáp, làm quan Triều Lê sơ (giai đoạn đầu của Triều Hậu Lê), chức Hộ Bộ Tả thị lang, sau đó được phong Công bộ Thượng thư2.


Đàm Thận Giản là người học giỏi, dòng dõi khoa bảng, ngày đêm dùi mài kinh sử, từ các lớp học ở hương thôn đến các lớp học ở nơi cung đình, vượt qua hàng nghìn nho sinh ở kỳ thi hương, thi hội, thi đình. Ông đã được Nhà Vua xướng danh tại kỳ thi hội ở Kinh đô.  Năm Kỷ Mùi (1499), ông thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ, khi ông đang ở tuổi 343. "Khoa thi này rất lớn, có trên 5.000 cử nhân cả nước dự; lấy 27 người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ, tên cụ Đàm Thận Giản đứng thứ 17"4.

Sau khi đăng khoa Hoàng giáp, Đàm Thận Giản được bổ dụng làm quan trong Triều với 4 đời Vua: Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực. 

Sử sách chép lại rằng, năm Hồng Thuận, đời Vua Lê Tương Dực (1509-1516), Đàm Thận Giản thừa lệnh Nhà Vua thảo bản Trần tình biểu gửi Nhà Minh khi ông đang giữ chức Hộ Bộ Tả thị lang5. Qua những văn thư do Đàm Thận Giản soạn thảo cực kỳ sắc sảo, Vua Lê Tương Dực thấy rõ tài năng thực sự của ông, muốn thăng ông lên chức Thượng thư Bộ Công6. Lúc này, Đàm Thận Huy đang là Thượng thư Bộ Lễ. Đứng trước việc Nhà Vua thăng chức Thượng thư Công Bộ cho Đàm Thận Giản, làm Đàm Thận Huy thấy lúng túng, áy náy, vì ông ngại trong một Triều đình mà hai anh em ruột đều nắm chức vụ chủ chốt, e thiên hạ có điều bàn tán chăng? Đàm Thận Huy là một ông quan cực kỳ thanh liêm, chính trực. Ông suy nghĩ rất nhiều về vấn đề hai anh em ruột đều làm Thượng thư (Bộ trưởng của Triều đình). Sau khi đã cân nhắc nhiều mặt và cũng đã trao đổi với Đàm Thận Giản, Đàm Thận Huy tâu với Nhà Vua rằng: "Thần đã làm Thượng thư, nay em Thần lại làm Thượng thư nữa, e thiệt cho hiền tài thiên hạ"7. Rồi Đàm Thận Huy khăng khăng từ chối việc thăng quan tiến chức cho Đàm Thận Giản. Thấy vậy, Nhà Vua cũng đành thôi. Nhưng sau đó, Nhà Vua vẫn thăng chức Công Bộ Thượng thư cho Đàm Thận Giản, vì Nhà Vua thấy Đàm Thận Giản là người thực sự tài năng, một nhà tổng kết công việc rất giỏi của Triều đình. 

Vào năm Nhâm Ngọ (1522), Đàm Thận Giản cùng với anh ruột là Thượng thư Đàm Thận Huy và một số người khác bàn mưu tính kế chống lại Mạc Đăng Dung. Đàm Thận Huy có bài thơ gửi Đàm Thận Giản, khuyên người em ruột của mình đi theo nghĩa quân chống lại Nhà Mạc:

"Thiên đạo minh minh,

Trung hiếu lệnh danh,

Cổ kim nhất lý,

Huynh đệ nghi hành".

(Đạo trời sáng tỏ,

Trung hiếu thơm danh,

Cổ kim lẽ ấy, 

Anh em thi hành)8.

Đàm Thận Giản đã nghe lời khuyên của Đàm Thận Huy và đã đứng trong hàng ngũ của Đàm Thận Huy chống lại Nhà Mạc9.

Đàm Thận Giản là một vị quan liêm chính, suốt đời nghĩ đến việc lớn, làm đến chức Tả thị lang Bộ Hộ10, được tôn vinh là “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu”11. Khi làm Thượng thư Bộ Công, ông thường xuyên đi kiểm tra các công trình xây dựng; sửa chữa, tu bổ cung điện nhà vua, thành trì, lăng mộ, miếu mạo, đền chùa, cầu đường, đê điều và các công trình công cộng của triều đình và đất nước; quản lý tốt xưởng sản xuất thủ công nghiệp (lúc này, Việt Nam chưa có công nghiệp); đứng đầu các quan xưởng; quản lý chặt chẽ việc chế tạo vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền, chế tác đồ dùng và vật liệu; có kinh nghiệm quản lý thợ thuyền và lao dịch, rất khéo động viên họ làm tốt công việc của mình, rất được cấp dưới tín nhiệm và kính nể. 

Thật là vinh dự cho bản thân, gia đình, dòng Họ Đàm Thận… ở Hương Mạc nói riêng và Họ Đàm Việt Nam nói chung về Đàm Thận Giản.

------

1. "Hoàng giáp": Từ dùng để chỉ người thi đỗ dưới thám hoa, chánh tiến sĩ dưới chế độ phong kiến.

2. "Thượng thư Bộ Công" là tước cao nhất trong 5 tước  của triều đình phong kiến là: công tước, hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước. Hàm Bộ trưởng, trông coi và quản lý các công việc xã hội.

3. Theo bài "Những tấm gương họ Đàm" của Nguyễn Quang Hạ, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr. 258.  Theo "Liệt truyện đăng khoa bị khảo", ghi Đàm Thận Giản đỗ năm 38 tuổi, làm quan đến chức "Hộ Bộ Thị lang", khi mất được tặng Công Bộ Thượng thư. 

4. Dẫn theo bài "Tiểu sử và sự nghiệp Tiến sĩ Đàm Thận Giản" của Lê Thị Hiển, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr.160.

5."Hộ Bộ Tả thị lang" là chức quan dưới trong triều đình phong kiến, dưới chức tham tri. Tham tri là chức quan dưới chức thượng thư, tương đương với chức thứ trưởng thời nay. Thượng thư là chức quan mang hàm bộ trưởng thời nay.

6. "Thượng thư Bộ Công" (Công bộ) là tước cao nhất trong 5 tước  của triều đình phong kiến là: công tước, hầu tước, bá tước, tử tước, nam tước. Thượng thư Bộ Công là vị quan đứng đầu Bộ Công, một trong 6 bộ (lục bộ) là 6 cơ quan cao cấp nhất dưới quyền nhà vua, trong bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam. Chức vụ này có hàm chánh nhị phẩm (tương đương với chức Bộ trưởng hiện nay). Nhiệm vụ chính của Thượng thư Bộ Công là trông coi và quản lý các công trình xây dựng; sửa chữa, tu bổ cung điện nhà vua, thành trì, lăng mộ, cầu đường, đê điều và các công trình công cộng của triều đình và đất nước; quản lý xưởng sản xuất thủ công nghiệp; đứng đầu các quan xưởng; quản lý việc chế tạo vũ khi, đóng thuyền, đúc tiền, chế tác đồ dùng và vật liệu; quản lý thợ thuyền và lao dịch, tuyển dụng phu phen, lao dịch,… 

7. Dẫn theo bài "Tiểu sử và sự nghiệp Tiến sĩ Đàm Thận Giản" của Lê Thị Hiển, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr.161. 

8. Dẫn theo bài "Đàm Thận Huy - Mẫu hình Nho gia hành đạo" của Nguyễn Phạm Bằng, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr.88,89.

9. Về năm mất của Đàm Thận Giản, có nhiều bài viết khác nhau. Tôi (ĐĐV) đang tiếp tục xác mình, tra cứu. Có thể ông mất vào năm 1522 hoặc năm 1523.

10. "Hộ Bộ" là một trong 6 bộ của Triều đình phong kiến, chuyên phụ trách về tài chính và dân sự.

11. “Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu” là một danh hàm (tước hiệu danh dự) cấp cao dành cho quan lại văn võ của triều đình trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Danh hàm này, chứng tỏ Nhà Vua rất nể trọng Đàm Thận Giản.

(Đăng bài: Quỳnh Nga)