Mới cập nhật

THƯỢNG THƯ ĐÀM CƯ (ĐÀM ĐÌNH CƯ)

GS,TS Đàm Đức Vượng


Đàm Cư (Đàm Đình Cư), tên húy là Vĩnh, thụy là Đoan Thận tiên sinh, quê làng Ông Mặc (làng Hương Mạc, làng Me), xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; sinh năm Kỷ Tỵ (1509), đời Vua Lê Uy Mục1.

Cổng Nhà thờ tiến sĩ - Thế Quận công Đàm Đình Cư 
(khu phố Hương Mạc, phường Hương Mạc, thành phố Từ Sơn)

Theo tác giả Lâm Giang trong bài "Đàm Thận Huy và tác phẩm Sĩ hoạn châm quy"2, thì Đàm Đình Cư là con trai Đàm Thận Giản, cháu gọi Đàm Thận Huy bằng bác. Có điều Đàm Thận Huy trung quân với Triều Hậu Lê, còn con trai Đàm Thận Giản là Đàm Đình Cư lại trung quân với Nhà Mạc, mà Triều Hậu Lê với Nhà Mạc vốn xung khắc chống nhau quyết liệt. Nhà Mạc có âm mưu lật đổ Triều Hậu Lê, còn Triều Hậu Lê và các trung thần của Triều đình này, trong đó, phải kể đến Đàm Thận Huy lại chống trả quyết liệt Nhà Mạc. Chỗ khác nhau này đã dẫn đến sự xung khắc giữa người bác là Đàm Thận Huy và người cháu là Đàm Đình Cư, nhưng sau cũng được giải quyết. Có lẽ từ sự xung khắc này mà Đàm Cư đổi tên dòng họ là Đàm Đình... để cho khác với dòng Đàm Thận...  

Ngay từ thuở thiếu niên, Đàm Đình Cư đã rất chăm chỉ học hành, có đức hiếu học, có ý chí vươn lên mạnh mẽ trên con đường công danh khoa cử. Ông nhận thực rằng, muốn có chỗ đứng ở đời, trước hết, phải có chỗ đứng nơi khoa bảng. Đó là cái gốc, cái rễ căn bản để tiến vào nơi quan trường.

Chúc văn tiến sĩ Đàm Đình Cư soạn năm 1581.

Sách "Cổ Mặc danh công truyện ký" viết: "Hằng ngày, ông dốc trí vào việc học tập, mỗi ngày lấy sáu điều thực hành làm quy ước"3. Sự nghiêm túc trong học tập đã dẫn đến kết quả bảng vàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, Đàm Đình Cư thi đỗ tam trường4. Sau kỳ thi này, ông thấy sức học của mình còn có phần non kém, nên quyết chí học tập tiếp. Vì vậy, khoa thi Mậu Tuất (1538, năm ông 29 tuổi), đời Mạc Thái Tôn Đại Chính (Mạc Đăng Doanh), năm thứ 9, ông đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ)5. 

Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, Đàm Đình Cư được bổ làm quan tại Nhà Mạc, làm quan Đại thần cho các Nhà Mạc: Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp trong khoảng thời gian hơn 40 năm; lần lượt giữ các chức quan: Dực vận Tán trị công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Lại bộ Thượng thư Chưởng Lục Bộ6; Hàn lâm Viện thị độc, Chưởng Hàn lâm Viện sự; Quốc Tử Giám Tế tửu7; Đông các Đại học sĩ, nhập thị Kinh Diên (vào tòa Kinh Diên để dạy học cho vua), tham dự triều chính, được phong Thái phó Thế Quận công8.

Tòa Tiền tế được dựng năm 2003 gồm 5 gian

Trên bất kỳ cương vị chức quan nào, Đàm Đình Cư cũng tỏ ra xuất sắc. Sức học tập và làm việc của ông thật đáng khâm phục. Tài năng và đạo đức tạo thành phẩm chất quan lại tinh khiết của ông. Là viên quan đại thần của Nhà Mạc, Đàm Đình Cư góp phần sửa sang văn tự cho đất nước, cố gắng uốn cong thành thẳng chính sự, lễ nghĩa. Với cương vị Thượng thư Chưởng Lục Bộ, văn võ song toàn, ông điều hành công việc triều chính một cách sáng suốt, linh hoạt. 

Về mặt ngoại giao, Đàm Đình Cư đã từng đi sứ Nhà Minh. Trong công tác ngoại giao, ông giữ được cái cốt cách của một nhà ngoại giao chân chính, ra sức bảo vệ quốc thể, quốc gia, lãnh thổ, bờ cõi, rất khéo trong quan hệ ngoại giao với kẻ xâm lược nước mình. Theo ông, quan hệ ngoại giao với kẻ đi xâm lược nước mình, phải có cách riêng, có nghệ thuật riêng, không nên áp dụng một cách máy móc.

Hậu đường còn giữ được kiến trúc của lần trùng tu thời Nguyễn (1917)

Đọc những câu đối treo tại các từ đường thờ Đàm Đình Cư đã thể hiện điều đó:

 "Lịch triều hiền trật văn kiêm võ

 Chung cổ nghiêm từ tướng á vương"

 (Sử sách hiển vinh văn kiêm võ

 Kim cổ tôn từ bậc phó vương)9.

 "Nhị giáp sánh danh khoa bảng diệu

 Tứ triều hiển trật miếu đường nhan"

 (Nhị giáp lừng danh khoa bảng đẹp

Bốn triều hiển hách tước cao sang)10.

"Đệ nhị giáp, Lại Bộ Thượng thư, thế Quận công, hiển khoa hiển hoạn

 Lịch bách truyền tiền tâm bình, hậu tiên lộc, văn tử văn tôn".

(Đỗ nhị giáp, Lại Bộ Thượng thư, thế Quận công, hiển vinh khoa bảng

Sử sách truyền đến trăm năm, tiền hậu lộc, hậu duệ văn bia)11.

Nhà thờ và phần mộ tiến sĩ Đàm Đình Cư được công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia 
theo Quyết định số 100-VH/QĐ, ngày 21/01/1989.

Nét đặc sắc trong con người Đàm Đình Cư là sự kết hợp với hành nghề làm quan và hành nghề dạy học. Với Ông, "tiến vi quan, thoái vi sư"12 vừa là mục tiêu, vừa là chỗ đứng trong cuộc đời Ông. Quan điểm này của Ông rất đúng đắn. Lúc tại quan cũng như khi về chí sĩ, Đàm Đình Cư luôn là vị quan thông minh, thanh liêm, chính trực. Ông thường nhắc nhở con cháu phải sống sao cho là người thanh liêm, chính trực, tiết kiệm, giản dị, chân quê. 

Sau hơn 40 năm ra sức phụng sự đất nước, Đàm Đình Cư lui về trí sĩ13 tại quê nhà ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh. 

Về trí sĩ được ít lâu, vua Mạc cấp đất cho Đàm Đình Cư, phong ấp cho ông để làm phủ đệ14 ở làng Vân Điềm. Tất cả trai tráng trong thôn đều được huy động đi xây dựng phủ đệ.

 Về trí sĩ, ông mở trường dạy học ở Hoa Úc, ngay tại quê nhà, gọi là "Vườn giảng". Học trò theo học rất đông. 

Ông cũng là người biết dùng người, chăm chú, để ý đến những tài năng trẻ. Có lần, Ông sang Vân Điềm kiểm tra việc xây dựng nhà thờ. Ông để ý thấy trong đám người xây dựng có một thanh niên khôi ngô tuấn tú, cho đây là một tài năng chưa được phát hiện. Ông hỏi người đó:

 - Anh tên gì?

 - Bẩm Quốc lão, con tên là Nguyễn Thực.

 - Anh có được học hành gì không?

 - Thưa, con là một học trò nghèo ạ.

 - Học trò nghèo à, nhưng có chịu khó học không? 

 - Thưa, con rất muốn học, nhưng không học lên được, đành phải bỏ dở ạ.

 Đàm Đình Cư muốn thử tài Nguyễn Thực, liền ra câu đối:

 "Thập bát lực năng đảm thổ".

 (Tuổi mười tám sức đội đất).

 Nguyễn Thực đối lại:

"Tiểu ngũ long phi tại thiên".

(Năm rồng nhỏ bay lên trời).

Qua câu đối lại của Nguyễn Thực, Đàm Đình Cư đã bắt đầu thấy khẩu khí của người thanh niên chân đất. Tiếp đó, Đàm Đình Cư hỏi thêm nhiều vấn đề về văn chương chữ nghĩa. Hỏi đến đâu, Nguyễn Thực trả lời trôi chảy đến đấy. Thấy vậy, Đàm Đình Cư quyết định cho Nguyễn Thực theo học ông và ông đã truyền đạt kiến thức của mình cho Nguyễn Thực. Nguyễn Thực ra sức học hành, đi thi đỗ Hoàng giáp năm Quang Hưng thứ 18 (Ất Mùi-1591) và làm tới chức Tán trị công thần, Tham tụng, Lại bộ Thượng thư Chưởng hàn lâm viện sự kiêm Đông các đại học sĩ, thái phó tức Lan Quận công và khi về hưu cũng được ban Quốc lão như thầy Đàm Đình Cư. Sau khi đỗ Hoàng giáp, Đàm Đình Cư đã gả cháu gái cho Nguyễn Thực. Con Nguyễn Thực là Nguyễn Nghi cũng làm tới chức Thượng thư, được ban tước quận công, thực là hiếm có. Nhờ có thầy Đàm Đình Cư mà Nguyễn Thực đã nên người. Nhiều học trò khác cũng được Đàm Đình Cư đào tạo.

Ngoài việc dạy học, Thượng thư Đàm Đình Cư còn góp phần xây dựng Văn hội ước, một hội mang tính giảng đường, giảng đạo, học thuật văn chương, được tổ chức ngay tại Bắc Ninh. Hằng năm, Hội này thường mở hội vào mùa xuân. Ngày này, nhân dân các nơi đến dự rất đông.

Ngai thờ Thượng thư Đàm Đình Cư

Thượng thư Đàm Đình Cư từ trần ngày 29 tháng 5 năm Tân Tị (1581), thọ 73 tuổi.      

Trước khi về nơi yên nghỉ trong giấc nghìn thu, Thượng thư Đàm Đình Cư đã để lại cho các thế hệ hậu duệ của Ông bài thơ "Tướng công chúc bạ nguyên bản":

"Cổ Mặc long đầu nhất cử danh

Hồng Am giữ bảng dụ đồng thanh.

Công quyền dục tán hàn lâm sĩ

 Nghiệp tự phi thừa để miếu hanh.

Chấn cổ hữu kim hoàn tử sắc

Côn lai chạch cập tiến kim vinh.

Quang tiền dụ hậu vô di hoán

Vị giác thân vinh trực bội đình".

Dịch thơ:

(Cổ Mặc đầu rồng nhất cử danh

Hồng Am giữ bảng dụ đồng thanh.

Công đường dưỡng dục hàn lâm sĩ

Truyền thống tôn thờ nơi miếu hanh.

Từ cổ chí kim toàn tử sắc

Gương sáng để đời hiện hiển vinh.

Tiền sáng hậu trong không thay đổi

 Mùi vị thân vinh chốn cao đình)15.

 Bản "Chúc văn" của Đàm Đình Cư:

 "Trời đất sinh ra vạn vật để làm đẹp thế gian. Tổ tông đã sinh ra con cháu để nối dòng tông thất. Mà đã là người thì phải có tổ tiên, không khác gì cây có gốc, nước có nguồn vây.

Vạn vật sống được nhờ sự che chở của trời đất, nhờ có vượng khí của âm dương. Con người nảy nở sinh sôi ngày thêm đông đúc và mãi mãi trường tồn là nhờ âm đức của tổ tiên, nhờ phúc lộc của tiền nhân tổ phụ.

Cho nên đã là người phải biết sống theo đạo lý. Phải biết tôn trọng nhân luân, biết chiêm thiên ngưỡng thánh. Biết tri âm tổ phụ tiên cúng. Biết kính trên nhường dưới, biết tôn thứ bậc, biết trọng tôn ti. Có như vậy, mới biết sống theo lời dạy của thánh hiền, theo di nguyện của tiên tổ. 

Một điều nữa, ta muốn nhắc các hậu duệ của ta. Đây cũng là một điều ta cho là tâm đắc nhất. Phàm là anh em nội ngoại phải biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, phải luôn nhớ câu: "Lá lành đùm lá rách". Con chị ngẫm con em phải cùng chịu đựng đắng cay. Phải nên ngọt bùi chia sẻ, phải biết yêu quý và giữ gìn thanh danh của gia tộc. Phải làm sáng tỏ công đức và truyền thống đẹp đẽ của tổ tiên. Như vậy, mới xứng đáng là con rồng cháu giống. Phải luôn  nhớ câu "tùy gia phong kiệm", đừng phung phí quá tay, cũng đừng chi ly, keo kiệt. Phải biết sử dụng đúng đắn cái có ích của đồng tiền. Chốt lại, phải giữ lòng mình và đôi bàn tay mình thật trong sạch, thật thơm tho. Nghĩa là thanh bần còn hơn trọc phú. Nghĩa là gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. 

Mấy dòng tâm huyết, các bậc hậu duệ hãy ghi nhớ và làm theo lời dạy của ta". 

Nhà chuyển bồng 1 gian hình vuông

Có thể kết luận Đàm Đình Cư là một bậc chính tâm, chính nhân quân tử, chính nghĩa. Ông đã nêu tấm gương sáng về tài năng và chí tiến thủ, về nhân cách sống của một bậc cự nho. Ông đã đem hết tài năng và đạo đức ra giúp nước. Tài trị nước và tài dạy học được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tạo thành chân giá trị của cuộc sống của ông.

Vấn đề mà Đàm Đình Cư theo Nhà Mạc đang còn những ý kiến khác nhau. Sự thật thì Nhà Hậu Lê lúc này đã suy yếu, nên không theo Nhà Mạc thì theo “nhà nào”? Nhưng Nhà Mạc cai trị đất nước cũng chẳng ra gì, dân tình vẫn điêu đứng, đói khổ. Vì vậy, Đàm Đình Cư chịu ảnh hưởng không tốt về nền chính trị của Nhà Mạc. Xin đừng vội trách ông, khi ông “gió chiều nào phải theo chiều ấy”. Những cống hiến chân thành của ông cho đất nước nước, xã hội là công lao của ông. Âu cũng là nhận thức và hành động của kẻ sĩ đương thời. Về hưu, ông dạy học, đào tạo được nhiều người tài, đức, sống cuộc đời lương thiện là phẩm chất cao quý của ông. Người đương thời ca ngợi ông ở đức tính này.


Nhà thờ Thượng thư Đàm Đình Cư ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh hiện còn treo nhiều câu đối ca ngợi Đàm Đình Cư:

"Lịch triều hiển trật văn kiêm võ

Chung cổ nghiêm từ tướng á vương"

(Tước phẩm cao vời vợi văn kiêm võ

Ngàn thuở lẫy lừng tướng sau vua).

"Nhị giáp sách danh khoa bảng lộ

Tứ triều hiển trật miếu đường nhan". 

(Nhị giáp lừng danh khoa bảng đẹp

Bốn triều hiển hách tước cao sang)16.

"Đệ nhị giáp, Lại Bộ Thượng thư, thế quận công, hiển khoa hiển hoạn

Lịch tự bách, truyền tiền tâm bình, hậu tiên lộc văn tử văn tôn".

(Đệ nhị giáp, đứng đầu Bộ Lại, tước Quận công, cao khoa cao chức.

Truyền trăm đời, tước rạng sáng ngời, sau để lộc cho con cho cháu)17. 

Chỉ ngần ấy câu đối thôi cũng đủ nói lên uy danh lớn lao của bậc đại trượng phu Đàm Đình Cư.

------

1. Về nhân vật Đàm Đình Cư, xin tham khảo thêm bài của Trần Thiên Đức: "Tể tướng - Quận công Đàm Đình Cư", in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr. 180, 181, 182, 183; Gia phả họ Đàm Đình trong tập tài liệu của Đàm Đình Phúc ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh; tập tài liệu của Đàm Đình Hải (Đàm Xuân Hải) ở Hà Nội.

2. Trong tài liệu của Đàm Đình Phúc ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh, ghi tên thụy của Đàm Đình Cư là "Đoan Thuận".

3. Dẫn theo bài "Tể tướng - Quận công Đàm Đình Cư" của Trần Thiên Đức, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr. 180. Hiện nay, tôi (Đàm Đức Vượng) chưa tìm được "sáu điều thực hành" của Đàm Đình Cư.

4. Đỗ tam trường là đỗ ở vòng thi thứ ba trong kỳ thi hương thời phong kiến. Tam trường là phải vào ba trường thi. Chưa biết rõ ngày, tháng, năm, Đàm Đình Cư thi đỗ tam trường. 

5. Trong tài liệu của Đàm Đình Phúc ghi theo Gia phả họ Đàm Đình ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh, thì Hoàng giáp là Tiến sĩ loại 2. Thực ra, Hoàng giáp không phải là Tiến sĩ loại 2, mà Hoàng giáp được xem như tiến sĩ hàng đầu, chỉ dưới học vị thám hoa.

Trong kỳ thi này, ông Giáp Hải đỗ Trạng nguyên, ông Trần Toại đỗ Bảng nhãn, ông Hoàng Sầm (có tài liệu ghi là ông Hoàng Linh) đỗ Thám hoa.

6. Lại Bộ Thượng thư Chưởng Lục Bộ là chức quan to của Triều Mạc, ngoài chức Lại Bộ Thượng thư (Bộ phụ trách quan lại), Đàm Đình Cư còn được giao Phụ trách (thực chất là theo dõi, kiểm tra 6 Bộ của Nhà Mạc).

7. Chức "Quốc Tử Giám Tế tửu" là chức Hiệu trưởng Trưởng Quốc Tử Giám Thăng Long..

8. Trong bài "Những tấm gương họ Đàm" của Nguyễn Quang Hạ, in trong sách "Kỷ yếu hội thảo họ Đàm trong lịch sử dân tộc và thân thế sự nghiệp quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy", sđd,, tr.258, viết “Đàm Cư làm quan trải Lục Bộ Thượng thư, tước Thế Quận Công, Hàm Thiếu phó, tham dự triều chính, về trí sĩ". 

9. Bản dịch của GS,TS Đàm Đức Vượng.

10. Bản dịch của Đàm Đình Phúc.

11. Bản dịch của GS,TS Đàm Đức Vượng.

12. "Tiến vi quan, thoái vi sư" là tiến thân bằng con đường làm quan, khi về chí sĩ thì làm nghề dạy học.

13. "Trí sĩ" khác với "chí sĩ". Trí sĩ là người về hưu, còn "chí sĩ" là người có tiết tháo, quyết tâm theo lẽ phải đến cùng.

14. "Phủ đệ" là dinh thự của các vương hầu thời phong kiến.

15. Người dịch thơ: GS,TS Đàm Đức Vượng.

16. Theo tài liệu của Đàm Đình Phúc ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh.

17. Theo tài liệu của Đàm Đình Phúc ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh.

(Đăng bài: Quỳnh Nga)