Mới cập nhật

NGUYÊN PHI - HOÀNG HẬU – HOÀNG THÁI HẬU ĐÀM THỊ AN TOÀN

 GS,TS Đàm Đức Vượng


Đàm Thị là con gái đầu lòng của gia đình ông Đàm Thì Phụng. Bà sinh vào khoảng năm Ất Dậu (1165); quê Thái Bình (quê của ông Đàm Thì Phụng). Bà nổi tiếng là người xinh đẹp nhất vùng; là người có học thức và biết làm thơ. Bà sớm được tiến cử vào nơi cung đình, bởi thân phụ Bà là Đàm Thì Phụng thường được ra vào nơi cung cấm và cũng được các quan trong Triều Lý tiến cử Bà tới Nhà Vua. 

Tháng 3 năm Bính Ngọ (1186), Đàm Thị An Toàn được Vua Lý Cao Tông sắc phong làm "Đàm Thị An Toàn Nguyên phi". 

Tháng 7 năm Giáp Dần (1194), Bà sinh ra Hoàng Thái tử Lý Hạo Sảm (Sam, tức Vua Lý Huệ Tông). Sau khi sinh ra Lý Hạo Sảm, Bà được Vua Lý Cao Tông phong làm An Toàn Hoàng hậu, mà sử sách vẫn gọi Bà là “Đàm Hoàng hậu An Toàn”, “Đàm Thị An Toàn Hoàng hậu”, hoặc “Đàm Hoàng hậu”, “Lý Cao Tông Đàm hậu”. Thụy hiệu là “Cao Tông Đàm Hoàng hậu”. 

Đàm Thị An Toàn tại vị ngôi Hoàng hậu Triều Lý Cao Tông đến năm Canh Ngọ (1210). 


Điện thờ Thái hậu, Hoàng hậu triều Lý 
tại quần thể di tích quốc gia đặc biệt đền Đô, Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh. 

(Ảnh: Internet)

Năm Canh Ngọ (1210), Vua Lý Cao Tông mất. Vua Lý Huệ Tông (con Vua Lý Cao Tông và cũng là con đẻ của Bà Hoàng hậu Đàm Thị An Toàn) được Triều đình Lý đưa lên ngôi Vua ngay trước linh cữu Vua cha là Lý Cao Tông. Năm ấy, Vua Lý Huệ Tông mới 16 tuổi. Sau khi lên ngôi Vua, Lý Huệ Tông phong Mẹ làm “Đàm Hoàng Thái hậu (Đàm Thái hậu)”1. Hai mẹ con cùng tham gia chính sự.

Khi trở thành Đàm Hoàng hậu và nhất là khi trở thành Đàm Thái hậu, Bà là người ra vào nơi triều chính, có thể nói là người điều khiển công việc của Triều đình Lý Huệ Tông khi Lý Huệ Tông mới lên ngôi Vua.

Năm Kỷ Tỵ (1209)2, quân của Quách Bốc kéo về Thăng Long, sử sách gọi là "loạn Quách Bốc". Quách Bốc đánh mạnh, buộc Vua Lý Cao Tông phải chạy về Quy Hóa thuộc vùng Vĩnh Phúc - Phú Thọ - Yên Bái ngày nay. Hai mẹ con Đàm Thị An Toàn và Thái tử Lý Hạo Sảm chạy về Hải Ấp, Thái Bình. Tại đây, Lý Hạo Sảm được mối lái kết hôn với con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung.

Trần Thị Dung là một người con gái cực kỳ xinh đẹp, được Lý Hạo Sảm yêu mê say đắm, nhưng Bà lại không được lòng mẹ chồng là Đàm Thái hậu. Đàm Thái hậu và Trần Thị Dung xung khắc với nhau. Có lần, hai mẹ con (Đàm Thái hậu và Lý Hạo Sảm, tức Lý Huệ Tông) tranh luận nhau về Trần Thị Dung:

Đàm Thái hậu hỏi Lý Hạo Sảm:

- Tại sao con lại say đắm người ấy đến thế?

Lý Hạo Sảm:

- Vì muội ấy vừa xinh đẹp, vừa sáng dạ.

Đàm Thái hậu:

 - Nhưng đây có thể là "mỹ nhân kế" của Nhà Trần gài vào để lật đổ Triều Lý chúng ta?

Lý Hạo Sảm:

- Thưa Thân mẫu, chưa có bằng chứng?

Đàm Thái hậu:

 - Đợi đến lúc có bằng chứng, thì chúng ta phải xuống mồ rồi!

Rút cục, Lý Hạo Sảm vẫn không chịu rời bỏ Trần Thị Dung, trong khi mẹ đẻ là Đàm Thị An Toàn vẫn rất cảnh giác với con dâu là Trần Thị Dung.

Qua sự việc này, thấy rằng, Đàm Thị An Toàn là người biết nhìn xa trông rộng. Dường như linh tính báo cho Bà biết rằng, cơ đồ của Triều Lý sắp rơi vào tay Nhà Trần và Nhà Trần sẽ dựng lên Triều Trần từ tay Triều Lý. Còn Lý Hạo Sảm sau này lên làm Vua là Lý Huệ Tông, tầm nhìn hạn hẹp và có phần say mê tửu sắc. Rút cục, Lý Huệ Tông đã bị Trần Thủ Độ bức tử.

Lợi dụng cơ hội được Triều Lý thăng quan tiến chức, những người họ Trần nhân danh Thái tử Lý Hạo Sảm, đốc binh kéo về Thăng Long, đánh bại được Quách Bốc và rước Vua Lý Cao Tông quay về kinh đô Thăng Long. Sau khi Vua Lý Cao Tông trở về đến kinh thành Thăng Long, thì xa giá chở Đàm Hoàng hậu và Thái tử Lý Hạo Sảm cũng về đến Thăng Long. 

Khi Vua Lý Cao Tông mất vào năm Canh Ngọ (1210), chính sự được chuyển sang Đàm Thái hậu cùng Vua con là Lý Huệ Tông. Theo lời thỉnh cầu của Đàm Thái hậu, Vua Lý Huệ Tông tấn phong em trai Đàm Thái hậu là Đàm Dĩ Mông làm Thái sư. Như vậy, Vua Lý Huệ Tông gọi Đàm Dĩ Mông bằng chú. Chính sự Triều Lý Huệ Tông lúc này có ba người: Vua Lý Huệ Tông, Đàm Thái hậu, Đàm Dĩ Mông. Về sau, Vua Lý Huệ Tông do nhu nhược, không can dự vào chính sự, còn lại là hai chị em nhiếp chính là Đàm Thái hậu và Đàm Dĩ Mông.

Lúc này, Triều Lý Huệ Tông nổi lên một viên quan đại thần là Tô Trung Từ, một trong những người cưu mang Đàm Thái hậu và Vua Lý Huệ Tông trong lúc bị nạn. Nhưng Tô Trung Từ lại không phải là người đứng đắn. Ông đã thẳng tay giết chết quan đại thần Đỗ Kính Tu, rồi đánh nhau to với các cựu thần Triều Lý Huệ Tông, như Đỗ Quảng, Đỗ Thế Quy, Phí Lệ,... để giành lại binh lực về tay mình. Vua Lý Huệ Tông đành phải phong cho Tô Trung Từ làm Thái úy3. Nhà Vua đành phải chịu sự chi phối của Tô Trung Từ.

Vua Lý Huệ Tông yêu thương Trần Thị Dung, đem Bà về Thăng Long và phong làm Nguyên phi. Nhà Vua cũng phong cho anh trai Trần Thị Dung4 là Trần Tự Khánh giữ chức Chương Thành hầu5. 

Năm Tân Mùi (1211), Tô Trung Từ bị giết. Lý Huệ Tông thở phào nhẹ nhõm. Tuy nhiên, lúc này, thế lực Triều Lý đã quá suy yếu, rất khó vực dậy được nếu không có người minh chủ và đám minh quan. Cũng vào thời gian này, Đoàn Thượng, người thống lĩnh Hồng Châu (Hải Dương) đang có mâu thuẫn với Trần Tự Khánh (anh trai Trần Thị Dung), phao tin Trần Tự Khánh có ý mưu phản. Lý Huệ Tông nổi giận, lại thêm sự gièm pha của Đàm Thái hậu mà giáng Nguyên phi Trần Thị Dung xuống làm Ngự nữ6.  Nhân cơ hội này, Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh thành Thăng Long. Lý Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng và kêu gọi các chư hầu tiêu diệt Trần Tự Khánh.

Lúc bấy giờ, Trần Tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi, thu phục được nhiều đất, đặc biệt, chiếm được Hồng Châu (Hải Dương) và các vùng lân cận. Trần Tự Khánh lo sợ em gái mình là Trần Thị Dung ở trong thành bị hãm hại, cho nên kéo binh đến bến Tế Giang, sát ngay Thăng Long để đe dọa Lý Huệ Tông và Đoàn Thượng, trong khi đó, "Đàm Thái hậu ngờ vực Trần Tự Khánh có ý phế lập ngôi Vua (Lý Huệ Tông, con bà - ĐĐV). Bà bèn đem ba hoàng tử: Nhân Quốc vương, Lục Hoàng tử và Thất Hoàng tử con của Cao Tông (không phải con của Đàm Thái hậu - ĐĐV) với các thị thiếp khác dìm đầu chết ở sau giếng trong cung. Rồi sai đem xác cả ba người vứt ra ngoài thành. Quần thần đều sợ Thái hậu không ai dám can. Thế là ngôi vị của Huệ Tông được giữ vững mà không sợ bị phế lập"7.

Lúc đầu, Lý Huệ Tông dựa vào Đoàn Thượng để chống Trần Tự Khánh. Về sau, thấy binh lực của Trần Tự Khánh rất mạnh, nên một mặt ngả theo Trần Tự Khánh, mặt khác, vẫn ngấm ngầm cùng Đàm Thái hậu mưu diệt họ Trần.

Đầu năm Quý Dậu (1213), Đàm Thái hậu lệnh cho các tướng sĩ ở đạo Phù Lạc và đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát binh đánh Trần Tự Khánh. Đúng ngày đã định, các tướng Phan Thế ở Phù Lạc, Ngô Mãi ở Bắc Giang tiến đến cửa Đại Hưng (cửa Nam thành Thăng Long). Trần Tự Khánh đang ở bến Đại Thông, nghe tin đó, liền kéo quân về Kinh đô, tiến vào Cấm Thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm, rồi trở về Đại Thông, ngăn chặn không cho quân của Đàm Thái hậu tiến vào trong thành.

Sau khi chiếm được đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy, Trần Tự Khánh cho hành quân lên Quốc Oai. Vùng Quốc Oai vốn thuộc phạm vi kiểm soát của tướng Nguyễn Tự. Khi Nguyễn Tự chết, Phó tướng Nguyễn Cuộc thay thế. Trần Tự Khánh dụ hàng được Nguyễn Cuộc, làm cho thanh thế của Trần Tự Khánh ngày càng thêm mạnh. 

Đàm Thái hậu, Lý Huệ Tông và Đàm Dĩ Mông rất lo sợ thế lực của phe cánh họ Trần lúc bấy giờ mà hiện thân là Trần Tự Khánh. 

Có một thời gian, Lý Huệ Tông nghe theo lời mẹ là Đàm Thái hậu phế truất Trần Thị Dung. Nhưng rồi Nhà Vua lại nghĩ lại khi Trần Thị Dung nói Thiếp vẫn là vợ của Bệ hạ, lại thêm nhan sắc của Trần Thị Dung đầy sức quyến rũ đối với Lý Huệ Tông, làm Lý Huệ Tông lại "đổi chiều gió", đem lòng yêu trở lại đối với Trần Thị Dung. Năm Bính Tý (1216), Trần Thị Dung từ Ngự nữ được phong làm Thuận Trinh Phu nhân.    

Trong lúc Lý Huệ Tông "yêu trở lại" đối với Trần Thị Dung, thì Thái hậu Đàm Thị An Toàn vẫn ghét bỏ Trần Thị Dung. Giữa hai mẹ con Đàm Thái hậu và Lý Huệ Tông không có mâu thuẫn vì tình mẫu tử, nhưng giữa mẹ chồng (Thái hậu Đàm Thị An Toàn) và nàng dâu (Trần Thị Dung) vẫn thường xuyên nổi lên những cơn sóng dữ. Nhiều lần Thái hậu Đàm Thị An Toàn mắng con dâu Trần Thị Dung là “giặc”, yêu cầu Lý Huệ Tông phải xử lý nghiêm khắc đối với Trần Thị Dung. Bà còn sai người lén bỏ thuốc độc vào bữa cơm của con dâu, sai người cầm chén thuốc độc bắt Trần Thị Dung phải uống. Lý Huệ Tông ngăn lại, không cho, kiên quyết bảo vệ Trần Thị Dung và ngay đêm ấy, Nhà Vua đã cùng với Trần Thị Dung lẻn đi đến chỗ quân của Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh đón được Lý Huệ Tông, liền phế truất Huệ Văn Vương, duy trì ghế Hoàng thượng cho Lý Huệ Tông. 

Tháng 128 năm Bính Tý (1216), Thuận Trinh Phu nhân Trần Thị Dung được phong làm Thuận Trinh Hoàng hậu. Trần Thị Dung có số tốt, cho nên đã vượt qua được cơn mưa móc của mẹ chồng là Đàm Thái hậu và từ Phu nhân, Trần Thị Dung đã trở thành Hoàng hậu của Lý Huệ Tông.

Tháng 4 Bính Tý (1276), lại xảy ra sự kiện các tướng ở Cảo Xã (Nhật Tảo, Từ Liêm, Hà Nội) nổi lên chống lại Triều đình. Vua Lý Huệ Tông sai tướng Lý Bát đánh lại, nhưng không thắng. Trước tình thế đó, Lý Huệ Tông, một lần nữa, lại phải quay về nương nhờ vào phe cánh họ Trần. Từ đấy, phe cánh họ Trần lại chiếm hầu hết các chức quan văn, võ trong Triều. Trần Tự Khánh được phong làm Thái úy. Con cả Trần Tự Khánh được phong tước vương. Trần Thừa được phong tước Liệt hầu9, trông coi nội chính. Trần Liễu, con cả Trần Thừa được phong tước Quan nội hầu...

Nắm đại binh trong tay, Trần Tự Khánh đánh đông dẹp bắc, đánh  quân của Nguyễn Nộn và các cánh quân khác, thống nhất một vùng giang sơn rộng lớn.

Dưới áp lực từ Trần Thủ Độ, vua Lý Huệ Tông đã buộc phải nhường ngôi cho cô con gái 8 tuổi của mình, 

công chúa Chiêu Thánh, tức là Lý Chiêu Hoàng (Ảnh: Internet)

Lý Huệ Tông được Trần Tự Khánh tôn lại làm Vua, một thời gian thì lâm bệnh. Vì không có con trai, Ông truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Thánh Công chúa. Khi lên làm Vua lấy tên là Lý Chiêu Hoàng. Được một thời gian, Lý Chiêu Hoàng, do sự dàn xếp của nhà mưu lược Trần Thủ Độ, Vua Lý Chiêu Hoàng kết hôn với người cháu của Trần Thủ Độ là Trần Cảnh; sau cũng do sự thu xếp của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng phải nhường ngôi Vua cho Phu quân là Trần Cảnh, xuống làm Hoàng hậu, như đã phân tích ở trên. Đó là năm Ất Dậu (1225). 

Thái hậu Đàm Thị An Toàn cũng hết thời làm mưa làm gió trên chính trường Triều Lý.

Thái hậu Đàm Thị An Toàn mất năm Đinh Mùi (1226).

Thái hậu Đàm Thị An Toàn là người cứng rắn, quyết đoán, làm việc vừa theo cảm tính, vừa theo lý tính; quyết không đội trời chung với Nhà Trần. Tuy nhiên, đôi khi Bà đánh giá, nhìn nhận con người còn theo suy nghĩ chủ quan của Bà. Tôi không đồng tình với một số bài viết phủ nhận những đóng góp của bà đối với Triều Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.

Họ Đàm Việt Nam lấy làm tự hào vì có một người phụ nữ làm Nguyên phi, Hoàng hậu, rồi Hoàng Thái Hậu. Đó là bà Đàm Thị An Toàn, một người tài sắc vẹn toàn. 

------

1  Hoàng hậu là vợ vua, Hoàng Thái hậu (Thái hậu) là mẹ vua, thời phong kiến.

2. Có tài liệu chép Quách Bốc đánh vào Thăng Long là năm Mậu Thìn (1028)? Nhưng qua đối chiếu với các sách sử, tôi (ĐĐV) cho rằng, Quách Bốc đánh vào Thăng Long là năm Kỷ Tỵ (1029), chứ không phải năm Mậu Thìn (1028). Vấn đề này cần phải được nghiên cứu.

3. Thái úy là chức võ quan cao cấp chỉ huy quân đội thời phong kiến.

4. Trần Thị Dung sau lấy Trần Thủ Độ.

5. Chương Thành hầu là chức quan cao cấp thời phong kiến.

6. Ngự nữ: một chức quan như ngự sử, chuyên làm việc can gián nhà vua thời phong kiến.

7. Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia: An toàn Hoàng hậu.

8. Đây có thể là tháng 12 dương lịch.

9. Liệt hầu là một chức quan to thời phong kiến, dưới tước công, trên tước bá: công tước, hầu tước, bá tước.

(Đăng bài: Đàm Quỳnh Nga)