Mới cập nhật

THÁI ÚY ĐÀM DĨ MÔNG

GS,TS Đàm Đức Vượng


Đàm Dĩ Mông là người con thứ hai của gia đình ông Đàm Thì Phụng và cũng là người con trai cả, em ruột Đàm Thị An Toàn. xuất hiện dưới Triều Vua Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Ông sinh vào khoảng từ năm Kỷ Sửu  (1169) đến năm Canh Dần (1170); quê được tính theo quê cha ở Thái Bình.


Thuở nhỏ, Đàm Dĩ Mông được người cha là Đàm Thì Phụng dạy chữ và được rèn cặp cùng với người em là Đàm Kinh Bang. Ông Đàm Thì Phụng đôi lúc cũng tâm sự với Đàm Dĩ Mông về chính sự và Đàm Dĩ Mông cũng rất quan tâm đến chính sự của Triều Lý, thường xuyên hỏi Cha về nhân tình thế thái. Có lần, Đàm Dĩ Mông hỏi Đàm Thì Phụng:

 - Thưa Phụ thân, Triều Lý liệu còn sống được bao lâu nữa?

 Đàm Thì Phụng:

 - Sao lại hỏi những câu chết người như thế?

 Đàm Dĩ Mông:

 - Ấy là con lo xa cho Triều Lý thôi, chứ không có ý gì? Linh tính báo làm con rất lo!

Đàm Thì Phụng gật đầu, nói rằng, bổn phận của cha, con ta là phải bảo vệ Triều Lý đến cùng, vì họ Đàm này ăn lộc của Triều Lý. Vả lại, chị của con đang làm Nguyên phi, rồi Hoàng hậu sao? Theo Đàm Thì Phụng, một gia đình mà có một bà Nguyên phi - Hoàng hậu là rất danh giá, cho nên phải bảo vệ đến cùng cái danh giá đó.

 Sau khi bà chị của Đàm Dĩ Mông được phong làm Đàm Thị An Toàn Nguyên phi Triều Vua Lý Cao Tông, rồi Hoàng hậu Triều Lý Cao Tông và Đàm Thái hậu Triều Lý Huệ Tông, Đàm Dĩ Mông đã được cất nhắc làm quan trong Triều Lý. Ông làm quan lớn của cả Triều Vua Lý Cao Tông và Triều Vua Lý Huệ Tông. 

Năm Canh Tuất (1190), Thái phó1 Ngô Lý Tín qua đời. Đàm Dĩ Mông liền được cử làm thay thế chức Thái phó của Ngô Lý Tín, làm phụ chính2 cho Vua Lý Cao Tông. Sau đó, lại được cất nhắc lên chức Thái úy3 tước vương4. Việc Đàm Dĩ Mông được cất nhắc làm Thái phó, rồi Thái úy, là nhờ công lao của bà chị ruột là Nguyên phi, rồi Hoàng hậu Đàm Thị An Toàn Triều Lý Cao Tông. Chỗ dựa chính của Đàm Dĩ Mông là Hoàng hậu Đàm Thị An Toàn và từ Hoàng hậu Đàm Thị An Toàn, dần dần, Ông dựa vào Vua Lý Cao Tông và sau đó là Vua Lý Huệ Tông. Cuộc đời của con người nếu chỉ sống "dựa vào" là cuộc đời không lâu bền khi chính sự của triều chính thay đổi.

Năm Nhâm Tý (1192), mùa xuân, tháng giêng, người ở giáp Cổ Hoành, Thanh Hóa, làm phản. Mùa hè năm ấy, Vua Lý Cao Tông sai Đàm Dĩ Mông đem phủ binh Thanh Hóa đi đánh giáp Cổ Hoành. Đàm Dĩ Mông sai quân lính chặt nhiều cây chuối bỏ xuống sông để cản thuyền giặc, làm cho quân Cổ Hoành lúng túng, không thành thế trận. Đàm Dĩ Mông đốc thúc quân đánh gấp, phá được quân giặc, bắt được người cầm đầu là Lê Vãn, đóng cũi đưa về Kinh sư. Vua xuống chiếu, bắt Lê Vãn lên ngựa gỗ mà chết.

     Đàm Dĩ Mông là người có cảm tình với Phật giáo. Một hôm, Ông dâng sớ xin Vua Lý Cao Tông trọng dụng các môn đệ Phật giáo. Nhà Vua nghe lời. Đàm Dĩ Mông đã mời nhiều vị thiền sư trụ trì các chùa lớn đến cung đình để tỏ lòng tôn kính, làm các vị thiền sư rất cảm động, biết ơn Nhà Vua và cũng biết ơn công lao tiến cử của quan Thái úy Đàm Dĩ Mông. Được Vua Lý Cao Tông, Hoàng hậu Đàm Thị An Toàn, Thái úy Đàm Dĩ Mông quan tâm, Phật giáo nước Đại Việt lúc này phát triển mạnh, thịnh hành trong cả nước. Cả nước đâu đâu cũng thấy sư, thấy chùa. Nhưng về sau, Đàm Dĩ Mông nhận ra rằng, bên cạnh các vị sư chính tu là rất nhiều vị sư không chính tu, phá giới, không chuyên tâm tu hành, mà chỉ lợi dụng việc tu hành để lập kế sinh nhai. Đàm Dĩ Mông thấy không thể để mãi tình trạng như thế, nên tâu với Vua Lý Cao Tông, rằng:       

     "Đương nay, số tăng đồ và số dịch phu ngang nhau. Chúng tự kết bè lũ, lập càn người chủ, tụ họp ở từng bọn, làm nhiều điều ô uế. Hoặc ở nơi dưới trướng, tĩnh xá mà công nhiên rượu thịt, hoặc ở chốn tăng phòng tĩnh viện mà riêng tư gian dâm. Ngày ẩn, tối ra như đàn cáo chuột. Chúng làm bại tục thương giáo, dần dần thành thói quen, nếu không cấm đi, để lâu tất ngày càng thêm tệ. Vua y lời tâu của Đàm Dĩ Mông. Đàm Dĩ Mông triệu tập tăng đồ trong xứ lại ở nơi kho thóc, độ vài chục người có danh tiếng làm tăng, số còn lại đánh dấu vào tay bắt hoàn tục"5

Nhà Vua cho lời tâu của Đàm Dĩ Mông là sự thật. Vì vậy, tháng giêng năm Mậu Ngọ (1198), Nhà Vua ban chiếu chỉ, triệu các nhà sư lại, chọn ra vài chục người thực tâm tu hành, nghiêm túc giữ đạo, cho tiếp tục làm sư. Số sư còn lại, đều bị đánh dấu vào tay, bắt phải hoàn tục. Từ đây, giới Phật giáo lại có ý "ngại" Đàm Dĩ Mông, cho Ông là người không có trước có sau đối với giới Phật giáo. Không chỉ đối với một số vị sư oán giận Ông, mà cả một số người ở "ngoài làng sư" cũng nghi ngờ Ông. Nhiều quan trong Triều có gia đình theo Phật giáo bắt đầu gét Ông. 

Sau khi loại bỏ những vị sư không chân tu, Đàm Dĩ Mông lại xử tiếp một số vụ án hình sự. Lần này, thì Ông đã xét đúng tội danh, tha cho những người bị oan ức và kết án những kẻ gây tội. 

Năm Nhâm Tý (1192), có cuộc nổi dậy của Lê Vãn ở Thanh Hóa, chống lại Triều đình. Vua Lý Cao Tông ra chiếu chỉ cho Thái úy Đàm Dĩ Mông đi dẹp. Tới nơi, Đàm Dĩ Mông quan sát kỹ địa hình, rồi ra lệnh cho quân lính chặt cây quẳng xuống sông để ngăn chặn thuyền của quân Lê Vãn. Kế này của Đàm Dĩ Mông có tác dụng khi các thuyền quân của Lê Vãn chỉ có thể di chuyển dọc từng thuyền theo luồng lạch, chứ không thể dàn hàng ngang mà đánh theo thế trận đã chuẩn bị từ trước. Thừa cơ, Đàm Dĩ Mông thúc quân đánh gấp, phá tan quân địch, bắt sống chủ tướng Lê Vãn, nhốt vào cũi, đưa về kinh thành Thăng Long.

Cuối năm Nhâm Tý (1192), Hồ Điệp ở Diễn Châu, Nghệ An lại nổi dậy chống lại Triều đình. Thái úy Đàm Dĩ Mông lại được lệnh ra trận. Lần này, Ông cũng thắng trận, bắt sống Hồ Điệp.

Đầu năm Giáp Dần (1194), Thủ lĩnh châu Chân Đăng là Hà Lê nổi dậy. Một lần nữa, Thái úy Đàm Dĩ Mông lại được cử cầm quân ra trận. Lần này, Đàm Dĩ Mông cũng thắng và bắt được Hà Lê.

Những trận cầm quân thắng lớn đã nâng cao uy thế rất nhiều đối với quan Thái úy Đàm Dĩ Mông. Lý Cao Tông rất tin tưởng Đàm Dĩ Mông. Nhưng bên cạnh đó, không ít quan chức của Triều đình lại ngấm ngầm ganh ghét Ông, sợ hình ảnh của Ông tỏa sáng, bao trùm lên thiên hạ, làm lu mờ hình ảnh của họ.

Tháng 76 năm Quý Hợi (1203), Vua Chiêm Thành là Bố Trì mang theo 200 chiến thuyền chở gia quyến và quân lính đến cửa biển Kỳ La7 để cầu cứu. Điện tiền chỉ huy sứ8 tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục9 là Phạm Diên tâu rằng: "Vua nước Chiêm Thành là Bố Trì bị chú là Bố Điền10 đuổi đi, nay đem vợ con ngụ ở cửa biển Kỳ La muốn cầu cứu"11. 

Nhận tấu, tháng 8 năm này, Vua Lý Cao Tông sai Thái phó Đàm Dĩ Mông, Khu mật sứ Đỗ An và các tướng Đỗ Thanh, Phạm Diên vào Kỳ La để xem xét, xử lý việc này. Đến nơi, Đàm Dĩ Mông nghe theo lời Đỗ An là không thu nhận Bố Trì, trong khi Đỗ Thanh, Phạm Diên lại đề nghị với Đàm Dĩ Mông cho thu nhận Bố Trì. Đàm Dĩ Mông và Đỗ An thu quân trở về Thăng Long. Hai tướng Đỗ Thanh, Phạm Diên bèn ở lại, sợ tội với Triều đình, tự mang quân Nghệ An đánh Bố Trì để làm kế tự bảo toàn, nhưng đánh mãi cũng không thắng. Đỗ Thanh, Phạm Diên bị Bố Trì giết chết. Quân Nghệ An tan vỡ. "Bố Trì thả sức cướp bóc rồi về"12.

Qua sự việc này, một số quan chức trong Triều đình phân vân, rằng, việc Đàm Dĩ Mông không tiếp nhận Bố Trì là sai, vì Bố Trì xin nương nhờ, lại không cho nương nhờ, như vậy, mất người ủng hộ, mất cả vây cánh. Thượng tướng Nguyễn Bảo Lương và Thượng thư Bộ Lại13 Tứ Anh Nhị vốn là những người có tư thù từ trước với Đàm Dĩ Mông, cho nên nhân sự việc Bố Trì, bèn tâu với Vua Lý Anh Tông, rằng, Đàm Dĩ Mông là kẻ nhu nhược, thiếu quyết đoán sáng suốt, việc không thu nhận Bố Trì là sai. Vua Lý Cao Tông nghe lời Nguyễn Bảo Lương và Tứ Anh Nhị14, liền giáng chức Đàm Dĩ Mông từ Thái úy xuống hàng đại liêu15. Triều đình cũng bỏ luôn chức Phụ chính của Đàm Dĩ Mông. Cuộc đời Ông sau một thời kỳ "thăng", nay lại bắt đầu "trầm".

Tháng 9 năm Quý Hợi (1203), người ở Đại Hoàng lại làm phản. Trước đó, người Đại Hoàng là Phí Lang và Bảo Lương tâu sở dâng Vua Lý Cao Tông, nói rằng, các tội mọt nước hại dân của Đàm Dĩ Mông. Đàm Dĩ Mông giận, lấy roi đánh Phí Lang, Phí Lang vì thế mà đem lòng căm giận Đàm Dĩ Mong. Nhân thấy thiên hạ điêu đứng, sầu khổ, nên Phí Lang muốn nổi dậy, cùng nhau làm phản, chống lại Triều đình và Đàm Dĩ Mông. Nhà Vua sai quan đại thần đem quân đi đánh dẹp bọn Phí Lang, nhưng quân của Phí Lang đã đánh cho quân Triều đình thua đau.

Tháng 10 năm Giáp Tý (1204), Nhà Vua sai Đàm Dĩ Mông đem binh lính đi đắp đường Bà Câu trở về phía Bắc, dọc theo Lộ Giang, đến trại Văn Lôi, để đề phòng người Đại Hoàng làm phản.

Năm Ất Sửu (1205), Đàm Dĩ Mông đắp đường xong, làm vài chục chiếc lâu thuyền, sai những người bắn cung giỏi ở Phú Lương, Thái Nguyên ở trên thuyền ấy, lấy dây dài buộc ở đàng sau thuyền, rồi hạ lệnh rằng: “Giặc tới thì chèo thuyền qua sông mà bắn, nếu bất lợi thì kéo thuyền về”16. Rồi Đàm Dĩ Mông bị triệu về Kinh. Người Đại Hoàng thấy Đàm Dĩ Mông đã về Kinh, liền đem quân ra đóng ở bên bờ Bắc. Quân lính làm như lời Đàm Dĩ Mông đã dặn. Người Đại Hoàng đứng trên bờ hò reo. Lính trên thuyền trông thấy quân Đại Hoàng mạnh, ai nấy đều sợ hãi bỏ chạy. Thuyền dạt vào bờ bên phía quân Đại Hoàng. Những tay bắn cung giỏi đều bị quân Đại Hoàng giết chết. Quân Triều đình tan vỡ. Quân Đại Hoàng của Phí Lang thừa thắng bèn đốc thúc bọn Quan Sản ở Chí Thổ đi đánh chiếm được nhiều làng, xã, đốt hành cung ở Ứng Phong17, phá các kho thóc và đốt cháy nhà cửa của dân. Sau đó, Nhà Vua sai Thị vệ đô hỏa đầu là Nguyễn Vị tới chiêu dụ người Đại Hoàng. Nguyễn Vị tới nơi, Phí Lang cùng hơn 170 hào trưởng của ông ta ra hàng.

Tháng 2 năm Bính Dần (1206), Nhà Vua phong Đàm Dĩ Mông làm Thái bảo, đội mũ củng thần. 

Năm Kỷ Tỵ (1209), Vua Lý Cao Tông phong Đàm Dĩ Mông làm Thái úy.

Vào năm Canh Ngọ (1210), mùa xuân, tháng giêng, trong Triều có việc xảy ra lôi thôi. Số là Thái tử Sảm (sau này lên ngôi Vua lấy hiệu là Lý Huệ Tông) tự ý phong tước quan cho một số người. Vua Lý Cao Tông biết việc này, nên muốn trừng trị những người được phong tước quan. Những người được Thái tử Sảm (trong "Việt Sử lược" chép là Vương tử Sảm) phong tước quan, sợ quá, liên bỏ trốn. Thái úy Tô Trung Từ (sách "Việt Sử lược" chép là Tô Trung Tự) được lệnh Vua đi bắt những người bỏ trốn. "Đàm Dĩ Mông bỏ trốn đến hương An Lãng18, nhân cùng bọn thuộc hạ mưu bắt những người được Vương tử Sảm phong tước để chuộc tội. Do đó, Đàm Dĩ Mông truyền hịch mộ binh các đạo, chia làm năm đội để đi đánh bắt bọn đó. Đàm Dĩ Mông đem người ở Gia Mưu và người phủ Thanh Hóa đánh hương Tức Mặc19, bị hại, nên các đạo binh nghe thấy thế đều lui về"20.

 "Mùa thu, tháng 7 (năm Canh Ngọ - 1210 - ĐĐV), Đàm Dĩ Mông đem 28 người nhận tước phong của Vương tử (Sảm - ĐĐV) dâng Vua. Đỗ Anh Doãn21 đường đường kể tội Đàm Dĩ Mông, rằng: "Mày là đại thần của nước, đã đem lòng vô quân, nhận tước phong của giặc, nay lại cùng ngồi với ta! Ta tuy bất tài, nhưng còn mặt mũi nào mà nhìn mày nữa"22. Đàm Dĩ Mông thẹn sợ mà lui. Nhưng cùng năm này, Đàm Dĩ Mông lại được phong làm Thái úy, một chức quan võ cao nhất trong Triều đình Lý lúc bấy giờ.

Tháng giêng năm Giáp Tuất (1214), Nhà Trần họp binh ăn thề ở đền Đỗ Thái úy ở Đông Phù Liệt23, định kéo quân về Kinh thành Thăng Long đoạt ngôi vua của Triều Lý. Những người cầm đầu của Nhà Trần trong trận đánh này là Trần Tự Khánh, Trần Thừa (Đức Thái Tổ), Trần Thủ Độ (Trần Thủ Đạt), Trần Hiến Sâm, Phan Lân, Nguyễn Nộn, Nguyễn Ngạnh, Vương Lê, Nguyễn Cải,... Vua Lý Huệ Tông đích thân chỉ huy thủy binh đánh quân của Trần Tự Khánh, nhưng bị cánh quân thuộc hạ của Trần Tự Khánh là Vương Lê, Nguyễn Cải đánh, bắt được thuyền Rồng; quân lính của Nhà Vua chạy lên bờ để thoát thân. Một cánh quân của Trần Thừa đánh phía hữu ngạn sông Lô (sông Hồng), đến bến Diên An gặp quân của Đàm Dĩ Mông. An Nhân Vương là phe cánh của Đàm Dĩ Mông cũng đem các quân từ Bắc Giang tới, hợp sức cùng đánh quân của Trần Thừa. Quân của Đàm Dĩ Mông và An Nhân Vương đều bị quân của Trần Thừa đánh bại. Lúc bấy giờ, Vua Lý Huệ Tông ở đình Trà, nghe tin quân của Đàm Dĩ Mông và An Nhân Vương bị thua đau, sợ hãi, sai xa giá vào trong cấm thành, rước Thái hậu cùng lên thuyền để đi Lạng Châu. Khi đi qua Đại Thất (tức Thái Thất) ở Thiên Đức (địa phận Từ Sơn, Bắc Ninh), Đàm Dĩ Mông khóc lóc thảm thiết, ngăn lại, nói: "Đường đi Lạng Châu xa xôi, đất nhiều chướng khí, không phải là nơi yên ổn. Nay Bệ hạ tị nạn mà đến nơi ấy, khác nào tránh nóng mà lại chạy vào lửa, có ích lợi gì? Xin Bệ hạ lưu lại đây ít lâu, sai bọn thần thống suất người Hồng, lại cùng kẻ kia giao chiến, để mưu toan về sau. Vạn nhất có bất lợi, sau đó, hãy ngự đi cũng chưa muộn"24. Nhà Vua nghe lời khuyên của Đàm Dĩ Mông. Nhưng rút cục, xa giá vẫn đi Lạng Châu, vì quân của Nhà Trần đang đuổi gấp.         

Vào những năm cuối Triều Lý, tình trạng cát cứ địa phương diễn ra khắp nơi. Nhiều địa phương nổi dậy chống Triều đình. 

Năm Giáp Tý (1204), Vua Lý Cao Tông sai Đàm Dĩ Mông mang quân đi đắp kênh Bà Câu, nhằm ngăn chặn (trấn yểm) người nổi loạn, như kiểu Tần Thủy Hoàng đi tuần về phương Nam để trấn yểm sự nổi loạn của Nhà Hán. Đắp kênh xong, Đàm Dĩ Mông lại cho đóng vài chục chiếc thuyền và sử dụng quân cung nỏ người Phú Lương, Thái Nguyên để đánh quân nổi dậy. Sau đó, Đàm Dĩ Mông trở lại Thăng Long theo lệnh gọi của Vua Lý Cao Tông. Về kinh thành Thăng Long được ít ngày, Nhà Vua lại sai Đàm Dĩ Mông đi dẹp loạn tại một địa phương. Lần này, quân cung nỏ của Đàm Dĩ Mông thua trận. 

Tuy nhiên, xét công lao của những trận đánh trước, Lý Cao Tông muốn an ủi Đàm Dĩ Mông, liền phục chức Phụ chính cho Ông. Tháng 225 năm Bính Dần (1206), Đàm Dĩ Mông được thăng chức quan Thái bảo26, được đội mũ công thần. Tháng 4 năm Đinh Mão (1207), Vua Lý Cao Tông phục chức Phụ chính cho Đàm Dĩ Mông. Cuộc đời Ông sau một thời gian “trầm”, lại bắt đầu “thăng”.

Tháng 8 năm Đinh Mão (1207), Đoàn Thượng và Đoàn Chủ nổi dậy ở Hồng Châu, Hải Dương, chống lại Triều đình. Lý Cao Tông sai các tướng giỏi đi đánh: Đàm Dĩ Mông cầm đầu đạo quân Đại Thông (miền Hà Đông dọc sông Đáy). Phạm Đình Di cầm đầu đạo quân Khả Liễu. Trần Hình cầm đầu đạo quân Phù Đái, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Bảo Trinh Hầu cầm đầu đạo quân Nam Sách, Hải Dương, cùng hợp với nhau đánh Đoàn Thượng. Đoàn Thượng thấy hợp quân Triều đình khá mạnh, bèn sai người đem của đút lót cho quan Phụ chính Phạm Du, một tay gian thần, chuyên ăn của đút. Được Đoàn Thượng "lót tay", Phạm Du cố xin Lý Cao Tông tha cho Đoàn Thượng. Lý Cao Tông nghe theo lời Phạm Du, liền triệu Đàm Dĩ Mông và Phạm Bỉnh Di về. Từ đấy, giữa Phạm Du với Đàm Dĩ Mông và Phạm Bình Di nảy sinh mối thâm thù. 

Sách "Việt Sử lược" chép:

"Năm Đinh Mão, hiệu Trị Bình Long Ứng, năm thứ 3 (1207).

 Người Đại Hoàng là Phí Lang lại làm phản, đánh ấp Tạp Tự27.

 Tháng 3 ( Đinh Mão - 1207 - ĐĐV), giặc ở châu Quốc Oai là Đoàn Khả Liệt, Vương Mãn làm phản28.

Mùa hạ, tháng 4 ( Đinh Mão - 1207 - ĐĐV), Đàm Dĩ Mông lại làm Phụ chính29.

Mùa thu, tháng 8 (Đinh Mão - 1207 - ĐĐV), Đoàn Thượng, Đoàn Chủ làm phản”30.

 “Vua sai đem nhiều binh linh đi đánh chúng: Đàm Dĩ Mông đem đạo Đại Thông, Bảo Trinh Hầu đem đạo Nam Sách, Thượng Phẩm phụng ngự Phạm Bỉnh Di đem đạo Khả Liễu, Chi hậu hỏa đầu Trần Hinh đem đạo Phù Đái quy định gặp nhau cùng đánh Thượng (Đoàn Thượng - ĐĐV). Thượng ngầm sai người đến đút lót cho Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du, xin đem đảng chúng theo Du. Du vì Thượng mà cố xin với Vua. Vua sai người đi triệu bọn Dĩ Mông (Đàm Dĩ Mông - ĐĐV) bảo đem quân về, Thượng bèn thoát được. Từ đó, Dĩ Mông, Bỉnh Di có hiềm khích với Du"31.

Tháng 7 năm Kỷ Tỵ (1209), Vua Lý Cao Tông nghe theo gian thần Phạm Du, ra lệnh giết tướng Phạm Bình Di với tội "làm phản". Để trả thù cho chủ tướng, một viên tướng của Phạm Bình Di là Quách Bốc mang quân đánh vào kinh thành Thăng Long. Trước tình thế nguy ngập, Phạm Du liền đưa Vua Lý Cao Tông tháo chạy lên Quy Hóa. Còn Thái tử Lý Hạo Sảm (sau là Vua Lý Huệ Tông) chạy về Hải Ấp, Thái Bình. Quách Bốc lập Hoàng tử Lý Thẩm (em Thái tử Lý Hạo Sảm) lên ngôi32. Đàm Dĩ Mông ở lại Thăng Long, thờ "vua mới" Lý Thẩm và Ông được phục chức Thái úy. Trong khi đó, ở Hải Ấp, mặc dù không có lệnh của Vua cha, nhưng Thái tử Lý Hạo Sảm tự phong nhiều chức cho những người họ Trần để làm vây cánh. 

Cuối năm Kỷ Tỵ (1209), những người họ Trần ở Hải Ấp nhân danh giúp Thái tử Lý Hạo Sảm, mang quân đánh Quách Bốc ở trong kinh thành Thăng Long, lật đổ Lý Thẩm, phục hồi ngôi vua cho Lý Cao Tông. Vua Lý Cao Tông trở về Thăng Long. Đàm Dĩ Mông sợ bị tội theo Lý Thẩm, bèn sai thủ hạ đi bắt 28 người33 được Thái tử Lý Hạo Sảm phong khi còn ở Hải Ấp để lập công chuộc tội. Ông mang 28 người này nộp cho Đỗ Anh Doãn. Nào ngờ, Ông bị Đỗ Anh Doãn mắng cho một trận, kể tội Đàm Dĩ Mông là kẻ phản nghịch theo Lý Thẩm. Đàm Dĩ Mông hổ thẹn, không dám nhìn mặt Đỗ Anh Doãn. "Tuy nhiên, cuối cùng, Ông vẫn không bị Lý Cao Tông trị tội, cho giữ chức Thái sư  (Thái úy - ĐĐV) như cũ"34. 

Năm Canh Ngọ (1210), Vua Lý Cao Tông qua đời. Thái tử Lý Hạo Sảm lên ngôi, tức Vua Lý Huệ Tông. Lý Huệ Tông là một ông Vua ít mưu mẹo và yếu đuối. Khi Lý Huệ Tông lên làm Vua, Đàm Dĩ Mông tiếp tục được giữ chức Thái úy. Sau khi quan phụ chính Đỗ Kính bị Tô Trung Từ giết, Đàm Dĩ Mông được Vua Lý Huệ Tông phong tước vương và làm Phụ chính thay Đỗ Kính. 

Lợi dụng sự yếu đuối, bạc nhược của Triều Lý, vây cánh họ Trần và Tô Trung Từ bắt đầu thao túng Triều đình. Tuy nhiên, vây cánh Nhà Trần và Tô Trung Từ, dù sao, vẫn còn ngại quan Thái úy Đàm Dĩ Mông, cho nên họ vừa tiến vừa thăm dò. Ít lâu sau, Tô Trung Từ cũng bị giết do tranh chấp quyền lực. Trong nước hỗn loạn, chia làm nhiều phe phái, đánh lẫn nhau. Đứng trước tình cảnh đó, Vua Lý Huệ Tông có phần bối rối, cho nên lúc thì dựa vào phe cánh họ Trần, khi dựa vào phe cánh họ Đoàn, họ Nguyễn là những dòng họ có thế lực ở Triều đình Lý lúc ấy. Đối với Thái úy Đàm Dĩ Mông lúc này cũng do dự, lúng túng trước các thế lực dòng họ mạnh đang thao túng Triều đình Lý. Kể cả Vua Lý Huệ Tông và Thái úy Đàm Dĩ Mông đều ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Vào một ngày của năm Quý Dậu (1213), Lý Huệ Tông sai Đàm Dĩ Mông liên kết với Đoàn Thượng ở Hồng Châu chống lại Trần Tự Khánh, người cháu bên ngoại của Tô Trung Từ. Sau đó, Lý Huệ Tông lại sai Ông đi đến vùng sông Tam Đái tập hợp lực lượng chống họ Trần. 

Năm Giáp Tuất (1214), Lý Huệ Tông cùng Đàm Dĩ Mông hợp với quân của Đoàn Thượng đi đánh Trần Tự Khánh. Thủy quân của Lý Huệ Tông đi dọc theo sông Hồng. Thủy quân của Đàm Dĩ Mông tiến về phía Thường Tín, Hà Tây.

Khi đến Mễ Sở, (thuộc khu vực huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay), quân do Vua Lý Huệ Tông chỉ huy gặp quân của họ Trần do Vương Lê, Nguyễn Cải chỉ huy. Hai bên chưa giao chiến, quân Vương Lê, Nguyễn Cải mới trống giong, cờ mở, hò reo ầm ỹ, quân của Vua Lý Huệ Tông đã sợ, chiến đấu một cách yếu ớt. Trong khi đó, cánh quân của người em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn sông Hồng cũng xông vào đánh quân của Triều đình. Các tướng khác của họ Trần là Phan Lân, Nguyễn Nộn từ Quốc Oai, Sơn Tây, tiến vào khu vực Ô Chợ Dừa, Thăng Long thành, đánh thắng quân giữ thành của Triều đình. Rồi một cánh quân của Đoàn Cấm, Vũ Hốt tiến lên Hồng Châu, đánh một cánh quân của Lý Huệ Tông. 

Cánh quân do Đàm Dĩ Mông chỉ huy, đi đến bến An Diên, Thường Tín, Hà Tây, thì gặp quân của Trần Thừa tiến đánh. 

Cả quân của Vua Lý Huệ Tông lẫn quân của Thái úy Đàm Dĩ Mông đều rút về đóng tại Đại Thất thuộc phủ Thiên Đức, Bắc Ninh để thế thủ và chờ quân của Đoàn Thượng cứu giúp. Chờ mãi, quân của Đoàn Thượng vẫn không đến, buộc Lý Huệ Tông và Đàm Dĩ Mông phải đưa quân lên trú tại Lạng Châu.    

Thừa thắng, quân của Trần Tự Khánh tràn vào Thăng Long thành. Lập xong đại bản doanh trong thành, Trần Tự Khánh sai người đem thư lên Lạng Châu gửi lên Lý Huệ Tông. Thư viết:

 "Dân tình uất ức, không thấu được lên trên. Cho nên, nhân lòng giận dữ của người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa để yên lòng dân mà thôi. Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào. Ngờ đâu, phải gánh lấy tội chuyên quyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tự xét tội của thần phải đáng vạn lần chết. Xin Bệ hạ nguôi cơn giận dữ, quay xa giá về Kinh sư để thỏa lòng người mong muốn"35. 

Vua Lý Huệ Tông đọc thư của Trần Tự Khánh có vẻ nghi ngờ tâm địa "miệng nam mô, bụng một bồ dao găm" của người họ Trần, bèn từ chối không về Thăng Long theo "lời mời" của Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh thấy vậy, liền lập Huệ Văn Vương, con của Lý Anh Tông lên làm Vua mới. Tuy nhiên, ông Vua này không được nằm trong danh sách Vua của Triều Lý, vì Triều đình không tiến cử, mà do "nghịch tặc" Trần Tự Khánh tiến cử. Vì vậy, về danh nghĩa lúc này, Lý Huệ Tông vẫn là Vua của Triều Lý. 

Sau khi lập Huệ Văn Vương lên làm Vua, Trần Tự Khánh sai người bắt gia quyến Đàm Dĩ Mông và em là Đàm Kinh Bang trói bằng dây thép, giam ở Mỹ Lộc36. 

Vào một ngày cuối năm Giáp Tuất (1214), Trần Tự Khánh thả Đàm Kinh Bang ra, vì Đàm Kinh Bang ngỏ ý muốn đầu hàng họ Trần. 

Thế lực của họ Trần lúc này mỗi lúc một thêm mạnh, trong khi đó, thế lực của họ Lý mỗi lúc một suy yếu.

Cuối năm Bính Tý (1216), Vua Lý Huệ Tông thấy lực lượng của Triều đình đã suy yếu nghiêm trọng, bèn đành phải quay về Thăng Long, chịu sự khống chế của Trần Tự Khánh.

Khi Vua Lý Huệ Tông quay về Thăng Long, thực chất là đầu hàng họ Trần, thì hình ảnh của quan Thái úy Đàm Dĩ Mông bị lu mờ hẳn và cũng bị trôi dần vào dĩ vãng. 

Nhìn lại cuộc đời của quan Thái úy của Đàm Dĩ Mông là một cuộc đời năm chìm, bảy nổi, chín lênh đênh. Có lần, Ông bị một viên quan trong Triều dâng thư tố cáo Ông mắc tội tham lam, vơ vét, nên Ông bị đánh đòn làm nhục. Uất quá, Ông tụ tập nhân dân nổi loạn, làm cho Triều đình phải lo sợ. Ít lâu sau, nhân có Quách Bốc đem quân đánh phá hoàng thành (năm Bính Thìn - 1208)37, đánh thẳng vào cung Vạn Duyên, lập Hoàng tử Thẩm lên làm vua. Đàm Dĩ Mông lại cơ hội theo phe đảng của Hoàng tử Thẩm. Đến khi anh em họ Trần ở Nam Định chiêu binh đánh dẹp loạn Quách Bốc (năm Đinh Tỵ - 1209), đưa vua Lý Cao Tông về Thăng Long tiếp tục làm vua, thì các quan đại thần chán ghét Đàm Dĩ Mông, cho Ông là kẻ cơ hội, phản phúc. 

Về cái chết của Đàm Dĩ Mông, các tài liệu cũng viết khác nhau. Có sách chép là khi các quan đại thần trong Triều chán ghét Đàm Dĩ Mông, cô lập Ông, thì Ông uất lên mà tự tử.

Đàm Dĩ Mông mất vào khoảng năm Quý Tỵ (1223).                 

"Đại Việt Sử ký toàn thư" đánh giá về Đàm Dĩ Mông:

"Thái úy Đàm Dĩ Mông là người không có học thức, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự ngày một đổ nát"38. Có nhà chép sử gọi Ông là "mọt nước, sâu dân". 

Tôi (Đàm Đức Vượng) nghĩ rằng, đánh giá về Đàm Dĩ Mông cũng nên có cái nhìn khách quan hơn. Đánh giá như "Đại Việt Sử ký toàn thư" chỉ là một phía. Dù sao, Ông cũng là danh thần Triều Lý, một nhân vật nổi trội trong Triều Lý Cao Tông và Triều Lý Huệ Tông, có nhiều đóng góp cho Triều Lý, nhưng cũng là một nhân vật tai tiếng, vừa có công với Triều Lý, lại vừa "góp phần" làm cho Triều Lý sụp đổ. Ông đã phạm nhiều sai lầm trong việc triều chính và mối quan hệ của Ông không được tốt, được khéo.

Qua nhân vật Đàm Dĩ Mông Triều Lý Cao Tông và Triều Lý Huệ Tông, âu cũng là bài học cho hậu duệ của họ Đàm. Dù sao, Họ Đàm Việt Nam cũng có một nhân vật như Đàm Dĩ Mông, đáng ghi vào sử sách. 

Riêng về nhân vật Đàm Dĩ Mông còn phải được tiếp tục nghiên cứu. 

Có một nữ nhà văn đến gặp tôi (ĐĐV) xin cuốn sách của tôi: “Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử dòng họ Việt Nam” để viết một cuốn tiểu thuyết về nhân vật Đàm Dĩ Mông.      

------

1. Thái phó là chức quan dưới thời phong kiến, trong hàng tam công.

2. Phụ chính là người giúp việc triều chính.

3. Thái úy là chức võ quan cao cấp, tổng chỉ huy quân đội.

4. Tước vương là tước (cấp) quan cao tột bậc, thời phong kiến, chỉ đứng dưới vua.

5. "Việt Sử lược", GS Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, tr. 164. 

6. Có thể đây là tháng dương lịch.

7. Cửa biển Kỳ La thuộc Nghệ An?

8. Điện tiền chỉ huy sứ là người đứng đầu một địa phương cấp tỉnh.

9. Châu mục là quan cai trị đứng đầu một châu ở miền núi (tương đương với một huyện, phủ) trong thời phong kiến.

10. Có một số tài liệu ghi là "Bố Do".

11. "Đại Việt Sử ký toàn thư", tập 1, sđd, tr. 417.

12. "Đại Việt Sử ký toàn thư", tập 1, sđd, tr. 418.

13. Thượng thư là chức quan tương đương như Bộ trưởng bây giờ. Thượng thư Bộ Lại là chức quan dưới thời phong kiến, chuyên làm công việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, quản lý quan lại.

14. Sách "Đại Việt Sử ký toàn thư", tập 1, sđd, tr. 418, ghi là "Phí Lang và Bảo Lương". Còn "Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia" lại ghi là "Nguyễn Bảo Lương và Tứ Anh Nhị". 

15. Đại liêu là một chức quan không cao, nhưng cũng không thấp thời phong kiến, dưới hàng tam công.

16. Dẫn theo “Việt Sử lược”, sđd, tr. 169.

17. “Ứng Phong”: nay là huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

18. Hương An Lãng có thể thuộc về huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (ĐĐV).

19. Hương Tức Mặc thuộc phủ Thiên Trường (nay là huyện Xuân Trường), tỉnh Nam Định.

20. "Việt Sử lược", sđd, tr. 176.

21. Trong "Đại Việt Sử ký toàn thư" chép là Đỗ Anh Triệt.

22. "Việt Sử lược", sđd, tr. 176.

23. "Đông Phù Liệt" là miền đất thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay. 

24. Dẫn theo "Việt Sử lược", sđd, tr. 187.

25. Có thể đây là ngày dương lịch.

26. Thái bảo là chức quan thứ ba hàng tam công thời phong kiến.

27. Chưa rõ ấp Tạp Tự ở đâu?

28. Sách "Đại Việt Sử ký toàn thư" (tập 1, bản dịch tiếng Việt, Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010, tr. 419-420), chép:

"Mùa đông tháng 10 (Đinh Mão - 1207 - ĐĐV), người Man ở núi Tản Viên, châu Quốc Oai (còn gọi là Quảng Oai, nay thuộc Hà Nội - ĐĐV) làm giặc, cướp bóc hương Thanh Oai, bè lũ rất nhiều, không thể ngăn được.

Mậu Thìn, năm thứ 4 (1208, Tống Gia Định năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng, sách lập Hoàng tử Sam làm Hoàng thái tử, ở Đông Cung.

Đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau.

Cho Phạm Du coi việc quân ở Nghệ An. Dù bèn làm phản, thu nạp những kẻ vong mạng và trộm cướp, gọi là "hậu nhân" (tức là những người đi tuần, hoặc những người chuyên đi do thám tin tức - ĐĐV), chia đi cướp bóc các nơi. Người châu Quốc Oai cũng đem bè lũ đến đóng đồn ở Tây Kết, đường sá vì thế không thông, Vua sai Thượng phẩm phụng ngự là Phạm Bình Di đem quân châu Đằng đến đánh.

Kỷ Tỵ năm thứ 5 (1209, Tống Gia Định năm thứ 2). Mùa xuân, tháng giêng, Phạm Bỉnh Di đem người châu Đằng và châu Khoái đánh bại Du. Du chạy sang châu Hồng. Bỉnh Di tịch thu nhà rồi đốt đi. Du càng oán lắm. Vua sai phụng ngự gọi Du về Kinh". 

29. "Phụ chính" là quan đại thần, đứng ra cai quản, trông coi việc nước khi vua còn nhỏ tuổi. Vì vậy, có thể nói Đàm Dĩ Mông đóng vai trò rất quan trọng trong Triều đình Lý Cao Tông, có thể được xem như ngang hàng với Vua. Chữ "phụ" ở đây có hai nghĩa: là "cha" và "phụ", người giúp việc vua (ĐĐV).

30. Việt sử lược, GS Trần Quốc Vượng dịch và chú giải, Đinh Khắc Thuân đối chiếu, chỉnh lý, Nxb Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Đông Tây xuất bản, tr. 172. 

31. "Việt Sử lược", sđd, tr. 172.

32. Đây không phải sắc phong của Triều đình, mà do Quách Bốc dựng lên, cho nên không được tính vào hàng vua Triều Lý.

33. Dẫn theo "Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia": Đàm Dĩ Mông. Có tài liệu ghi là bắt được hơn 30 người.

34. Dẫn theo "Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia". Đáng lẽ phải là chức "Thái úy", chứ không phải "Thái sư", vì trong nhiều tài liệu, sách đều ghi Đàm Dĩ Mông được giữ chức Thái úy. Thái úy là chức võ quan cao cấp chỉ huy quân đội thời phong kiến. Còn Thái sư là chức quan đứng đầu hàng tam công thời phong kiến.  

35. Dẫn theo "Bách khoa Toàn thư mở - Wikipedia": An Toàn Hoàng hậu.

36. Mỹ Lộc thuộc khu vực Nam Định ngày nay.

37. Qua nghiên cứu, tôi thấy Quách Bốc đánh vào Thăng Long là năm Đinh Tỵ (1209), chứ không phải năm Bính Thìn (1208).

38. "Đại Việt Sử ký toàn thư", tập 1, sđd, tr. 424.

(Đăng bài: Đàm Quỳnh Nga)